ĂN MÀY QUÁ KHỨ

Những người cộng sản Trung quốc và Việt Nam coi Khổng giáo là một thứ triết học phản cách mạng. Triết lý của Khổng Tử về một xã hội “tôn ti trật tự” trong đó mọi người chấp nhận vị trí xã hội của mình, trung quân, ái quốc, thờ cha kính mẹ, tôn sư trọng đạo, kính người trên, nhường người dưới…Theo Khổng tử nếu mọi người trong xã hội đều nhận thức được vị trí của mình và làm tròn bổn phận của mình với vị trí xã hội đó thì “thiên hạ” sẽ tuyệt đối thái bình.

Những người cộng sản giảng giải rằng sự thấm nhuần những tư tưởng của Khổng giáo và Phật giáo khiến giai cấp vô sản tại Trung Quốc và Việt Nam đã không dám thách thức những người có vị trí xã hội cao hơn, cam chịu làm nô lệ cho giai cấp thống trị phong kiến, không có đủ can đảm đứng lên làm cách mạng để đổi đời.

Khổng giáo và tôn giáo tại Trung Quốc và Việt Nam được coi là trở ngại chính trong con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, là kẻ thù của cách mạng vô sản.

Theo những người cộng sản thì trong khi Khổng Giáo kêu gọi mọi người tôn trọng trật tự xã hội, thì chủ nghĩa cộng sản kêu gọi cách mạng, lật đổ mọi thứ để xây dựng lên một xã hội  hoàn toàn mới của loài người. Như thế rõ ràng chủ nghĩa cộng sản và Khổng giáo phải khác nhau về căn bản?

Paul Mus, một triết gia Pháp có nhiều quan hệ và nhiều công trình nghiên cứu về Việt Nam cho rằng Khổng giáo và chủ nghĩa cộng sản hầu như không giống nhau ở bất cứ điểm nào.

Mus nói mặc dầu Khổng giáo và chủ nghĩa cộng sản đều bác bỏ chủ nghĩa cá nhân, coi trọng trách nhiệm tập thể, nhưng chủ nghĩa tập thể trong Khổng giáo có tính chất thiêng liêng hơn nhiều so với chủ nghĩa tập thể của chủ nghĩa cộng sản. Đối với người cộng sản chủ nghĩa tập thể chẳng qua là là một nguyên tắc có tính chất thực dụng , dùng để huy động và phát huy sức mạnh tập thể cho mục đích cải tạo xã hội.

Tuy nhiên sự khác biệt mà Paul Mus nói đến khi đề cập đến Khổng giáo và chủ nghĩa cộng sản chỉ là sự khác biệt có tính chất hình thức.  Trong khi chủ nghĩa cộng sản là một sản phẩm của xã hội phương Tây, vốn thực dụng và hình thành dựa vào những nghiên cứu khoa học; thì Khổng giáo là kết tinh của những quan sát xã hội tự nhiên với trung tâm điểm là con người.

Trên thực tế Khổng giáo và chủ nghĩa cộng sản có rất nhiều điểm chung.

Khác với sự lầm tưởng của nhiều người, trong Khổng giáo không có chỗ dành cho tôn giáo. Theo Khổng tử, con người, trên hết là một thực thể xã hội. Và vì thế con người không nên hướng tinh thần của mình vào thế giới siêu nhiên. Tại đây Khổng giáo đã có điểm chung đầu tiên với chủ nghĩa cộng sản: Con người không nên tin vào tôn giáo mà nên tập trung suy nghĩ của mình vào xã hội loài người đang sống.

Theo Nguyễn Khắc Viện, một trí thức  cộng sản nổi tiếng của Việt Nam,thì cả Khổng giáo và chủ nghĩa cộng sản đều đề cao trách nhiệm tập thể và bổn phận xã hội. Ông ta nói rằng chủ nghĩa cá nhân tư sản hoàn toàn xa lạ với cả Khổng giáo và chủ nghĩa cộng sản.

Một đặc tính khác của Khổng giáo và chủ nghĩa cộng sản là khuynh hướng công nhận tính chính thống. Theo đó vị trí,thứ bậc trong xã hội là không thể thay đổi. Vua sinh ra để làm vua và dân sinh ra để làm dân. Do đó truyền thống cha truyền con nối của chế độ phong kiến được lập lại dưới chế độ cộng sản qua hình thức thế hệ lãnh đạo già nua giao quyền lực lại cho thế hệ kế thừa. Vị trí độc tôn của vua chúa và đảng cộng sản là bất khả thách thức.

Cũng theo ông Viện thì bản chất của Khổng giáo là bảo thủ, coi hành vi cá nhân chống lại người khác ở vị trí xã hội cao hơn hay chống lại nhà cầm quyền là hành động nổi loạn làm rối loạn sự an lành của xã hội.  Chính vì thế để đảm bảo mọi người đều hài lòng trong vị trí xã hội của mình, Khổng tử đề cao vai trò “đạo đức mẫu mực” của người cai trị như vua chúa và quan lại.

Theo đó, vị trí của vua chúa, quan lại là những vị trí đã định sẳn cho những người này. Trong những vị trí trọng vọng đó, họ phải có bổn phận làm gương, rồi dạy dỗ những điều hay lẽ phải cho dân, tức là những người có vị trí xã hội thấp kém hơn. Người Việt hay nói “quan cho ra quan, dân cho ra dân”, cũng là để nói đến cách xử thế của từng người tùy theo thứ bậc xã hội của mình.

Tưởng không cần phân tích sâu xa cũng dễ thấy sự tương tự của Khổng giáo và chủ nghĩa cộng sản khi nói về vai trò của những người cai trị dân. Sự khác nhau chẳng qua chỉ là từ ngữ.

Một điểm khác cả Khổng giáo lẫn chủ nghĩa cộng sản đều không coi trọng pháp luật. Trong Khổng giáo trật tự xã hội chắc chắn sẽ được duy trì nếu ai cũng biết rõ vị trí của mình và làm tròn bổn phận của mình trong vị trí đó. Vua biết vị trí của mình và biết mình phải làm gì, dân biết vị trí của mình và biết phải làm gì. Cần gì phải có pháp luật?

Nếu có chăng thì pháp luật đó chính là tư cách và đức của những người cai trị. Khi đã nêu gương, họ có quyền giảng dạy cho người dân điều hay lẽ phải và phân xử mọi việc dựa trên tư cách và đạo đức của họ. Qua đó luật pháp nằm chính trong tay của vua chúa hay quan lại. Một ông quan đã thấm nhuần đạo thánh hiền, ra làm quan cai trị dân không cần bất cứ luật pháp nào.

Vua cho quan lại được quyền hành xử tối thượng thay mặt nhà vua tại những quận huyện quan cai trị. Quan được làm bất cứ điều gì miễn đừng đi ngược lại đạo thánh  hiền.

Những cán bộ cộng sản cũng hành xử tương tự. Cái duy nhất mà họ dựa vào đó là đạo đức cách mạng.  Đạo đức cách mạng là gì? Đó chính là “cần kiệm liêm chính chí công vô tư”.Nếu đạt được như thế thì khi đến một địa phương nào, mỗi cán bộ cộng sản có thể nói là một ông Bao công. Ai cần luật pháp làm gì cho phức tạp dưới chế độ cộng sản? Thay vì làm luật, đảng cộng sản ra sức đào tạo đảng viên cán bộ cho thấm nhuần cương lĩnh,chủ trương, đường lối của đảng. Cộng thêm với tư cách cá nhân của cán bộ là thành luật.

Đảng cho cán bộ quyền hành xử tối tượng tại địa phương nơi cán bộ thay mặt đảng điều hành cơ chế cai trị tại địa phương. Cán bộ có thể làm bất cứ điều gì miễn đừng đi ngược lại với chủ trương chính sách của Đảng.

Trong bối cảnh bất công xã hội ngày càng trầm trọng, tham nhũng tràn lan trong hàng ngũ cán bộ có quyền có chức, uy tín của đảng ngày càng suy giảm. Xã hội công dân ngày càng phát triển cũng góp phần làm cho dân chúng ngày càng bớt sợ sệt các công cụ bạo lực của đảng như công an hay quân đội. Các cuộc biểu tình xảy ra khắp mọi nơi kể cả ở Trung quốc và Việt Nam. Mức độ bạo động của các hành vi phản kháng ngày càng tăng đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ.

Việc quay trở lại với Khổng giáo có thể là một giải pháp cần thiết nhằm thiết lập lại kỷ cương xã hội và dập tắt những mầm mống chống đối. Hành động này của đảng cộng sản một lần nữa cho thấy Khổng giáo và chủ nghĩa cộng sản ở Á châu có một mối quan hệ đặc biệt mà không thể tìm thấy ở các nước cộng sản như Nga, Cuba hay ở Đông Âu.

Hơn lúc nào hết đảng cộng sản tại Trung quốc và Việt Nam mơ về một xã hội thấm nhuần những tư tưởng Khổng giáo. Nơi người dân biết rõ vị trí của mình và tôn trọng vị trí “chí tôn” của đảng cộng sản như người dân cung cúc làm ăn và thờ vua dưới thời phong kiến.

Từ sự phân tích về những điểm tương đồng của Khổng giáo và chủ nghĩa cộng sản, có thể nói rằng xã hội cộng sản chỉ là một xã hội phong kiến hiện đại không hơn không kém.

Khổng giáo đã tồn tại và đã ăn sâu vào tiềm thức, nếp sống và nếp suy nghĩ của người dân ở Trung quốc và Việt Nam hàng ngàn năm nay.  Đó chính là câu trả lời vì sao chủ nghĩa cộng sản khó có thể bị đánh bật gốc ra như đã xảy ra tại Nga và Đông Âu.

Sự kết hợp giữa truyền thống Khổng giáo và tư tưởng cộng sản đã làm tê liệt khả năng đề kháng của hai dân tộc Trung quốc và Việt Nam. Khổng giáo chống lại bất kể loại hình cách mạng nào. Cộng sản chỉ tiến hành một cuộc cách mạng hình thức. Sở dĩ cách mạng cộng sản thành công tại Trung quốc và Việt Nam vì những người cộng sản đã dùng chiêu bài chống Nhật, chống Pháp hay chống Mỹ, và đã khơi dậy chủ nghĩa dân tộc, lòng yêu nước của đa số dân chúng. Nếu như không có chiêu bài chống ngoại bang, dành độc lập, chưa chắc những người cộng sản tại Trung quốc và Việt Nam đã lật đổ được chủ nghĩa phong kiến.

Xét cho cùng, cả hai dân tộc Trung quốc và Việt Nam, sống hàng ngàn năm trãi qua hai chế độ phong kiến và cộng sản, chưa có một ngày được thật sự sống trong một chế độ dân chủ.

Ngày nay trong bối cảnh khủng hoảng ý thức hệ, đảng cộng sản tại Việt Nam và Trung Quốc có khuynh hướng quay lại đi ăn mày quá khứ, bới lên tìm lại và dùng lại những cái có một thời họ đã cho là rác rưỡi. Những người cộng sản trong tiến trình đi ăn mày quá khứ cuối cùng đã nhận thấy rằng con đường cách mạng mà họ hăm hở đi xưa nay đã dẫn họ trở lại ngay điểm xuất phát ban đầu.

Ls Lê Đức Minh

Be the first to comment

Leave a Reply