Bạo lực là biểu hiện của sự yếu nhược

Lúc nhỏ tôi thích đánh lộn. Nhà nghèo, thiếu ăn, nhưng nhờ có sức chịu đựng, dẻo dai cho nên tôi chẳng chịu thua bất cứ đối thủ nào. Hễ có khiêu khích thì cho dù đối phương có to con cỡ nào tôi cũng nhào vô húc. Mà đánh đâu thắng đó cho nên tôi giữ chức “cầm đồng” trong cả xóm, cả làng.

Thời đó, tức những năm đầu của thập niên 1950, phim chưởng hay võ thuật chưa xâm nhập vào thị trường Việt Nam. Trong các rạp “xi nê” chỉ có phim ca vũ nhạc  Ấn Độ, quỷ nhập tràng của Phi Luật Tân và cao bồi “viễn tây” của Mỹ. Người hùng của lũ trẻ chúng tôi dĩ nhiên chỉ có thể là mấy tay cao bồi bắn đâu trúng đó và thọi ai thì người đó gục. Tôi được hun đúc với thứ triết lý sống: tất cả mọi vấn đề đều có thể và phải được giải quyết bằng cơ bắp và súng đạn, nghĩa là bằng bạo lực.

Không ngờ triết lý ấy lại đeo đuổi tôi suốt đời. Phải có những lúc hồi tâm, dùng lý trí để suy nghĩ, dùng trái tim để cảm thông, tôi mới nhận thấy rằng bạo lực chỉ là biểu hiện của sự yếu nhược. Ngoài ra, càng thêm tuổi, tôi cũng càng ý thức rằng một người có tư cách và trưởng thành không thể xem bạo lực như biểu hiện của một sức mạnh đích thực. Tôi càng thêm tuổi thì người hùng của cơ bắp và súng đạn cũng càng mờ nhạt đi để nhường chỗ cho những mẫu người biết xây dựng hòa bình và tranh đấu bằng con đường bất bạo động. Một sự tiến hóa như thế có lẽ không chỉ đúng cho cá nhân tôi, mà cũng áp dụng cho toàn thể nhân loại. Con người ngày càng  vươn lên từ bạo lực đến hòa bình. Đi ngược lại sự tiến hóa ấy là tự kết án vào chỗ chết.

Thời còn ăn lông ở lỗ, con người xem bạo lực như khí giới duy nhứt để chống đỡ với kẻ thù. Để chống chọi với thiên nhiên trong đó các loài thú dữ lúc nào cũng rình rập để cắn xé hoặc các bộ tộc khác vốn luôn cạnh tranh và đe dọa, con người không có một sự chọn lựa nào khác hơn là dùng sức mạnh của cơ bắp để sống còn.

Nhưng qua tiến trình tiến hóa, con người ngày càng trở nên văn minh hơn. Họ biết liên kết với nhau để xây dựng những nền tảng chung, luật lệ chung cũng như học biết cái hay cái mới và từ đó biết tránh xung đột và bạo lực không cần thiết. Tuy nhiên, cũng như trong đời sống của một cá nhân, sự trưởng thành của nhân loại cũng gập ghềnh không kém. Bạo lực vẫn tiếp tục xen vào ý thức và khát vọng hòa bình của con người. Lịch sử của nhân loại dường như cũng là lịch sử của chiến tranh. Trước Thế kỷ 20, thế giới đã bị cày xéo bởi không biết bao nhiêu cuộc chiến tranh. Trong Thế kỷ 20, hai cuộc đại chiến, những cuộc nội chiến, những cuộc diệt chủng đã diễn ra ở mức độ tàn khốc chưa từng thấy. Từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay, mức độ bạo lực trong thế giới có giảm đi nhiều, nhưng bạo lực vẫn còn tiềm ẩn trong trái tim con người, ngay cả trong những nước dân chủ và văn minh. Hoa Kỳ là một trường hợp điển hình. Theo thống kê, chỉ trong năm 2015, có đến 372 vụ xả súng bắn người hàng loạt, khiến cho 475 người bị thiệt mạng và gần 2 ngàn người bị thương.Tính theo tỷ lệ, số người bị giết vì súng đạn tại Hoa Kỳ nhiều gấp 30 lần so với Anh quốc. Từ năm 1968 đến năm 2011, tại Hoa Kỳ có không dưới 1.4 triệu người chết vì súng đạn, trong khi đó chỉ có 1.2 triệu người chết vì chiến tranh nếu tính  từ cuộc chiến giành độc lập (1776) cho đến cuộc chiến tại Iraq. Các tội phạm mang tính bạo lực, từ giết người, hiếp dâm, cướp bóc và bạo hành, chỉ trong năm 2015 thôi, đã lên đến 1.25 triệu vụ.

(x.Phạm Phú Khải, https://www.voatiengviet.com/a/bao-luc-bieu-tinh-bat-bao-dong/4456940.html).

Ông bà ta dạy: gần mực thì đen gần đèn thì sáng. Bạo lực có tính lây lan. Lúc nhỏ, lũ trẻ nhà quê  chúng tôi thường bị các bà mẹ la rày về chuyện “tùng tam tụ ngũ” với nhau để “phá xóm phá làng”, để đánh nhau với các “băng đảng” của những xóm khác. Băng đảng hay bè bạn nói chung là mảnh đất tốt để làm phát sinh và nuôi dưỡng bạo lực. Cũng như lòng vị tha và sự tử tế có thể mang lại niềm vui cho người thọ ơn lẫn kẻ thi ơn thì người gây bạo lực và chính nạn nhân của bạo lực cũng thường làm cho bạo lực bùng cháy như lửa. Theo kết quả của một số cuộc nghiên cứu được thực hiện hồi năm 2016, thanh thiếu niên tại Hoa Kỳ thường gây bạo lực nếu một trong những người bạn của họ đã phạm tội. Điều này cho thấy những người nghĩ đến bạo lực hay sử dụng bạo lực thường tìm đến nhau và ngày nay các mạng lưới xã hội đã vô tình trở thành nơi dung dưỡng bạo lực. Một khi bạo lực bắt đầu với các mạng lưới này, nó có nguy cơ lan rộng đến toàn thể các thành viên của mạng lưới.

(x.https://www.psychologytoday.com/au/blog/the-athletes-way/201612/why-is-violence-so-contagious).

Bạo lực lại càng lây lan hơn nếu nó được một nhân vật có thế giá và ảnh hưởng trong xã hội cổ võ. Dạo tháng Năm năm vừa qua, trong một cuộc tranh cử bổ túc tại Tiểu bang Montana, khi bịký giả Ben Jabobs của báo the Guardian của Anh chất vấn, dân biểu Greg Gianforte, thuộc Đảng Cộng Hòa, đã có hành vi bạo động xúc phạm đến thân thể của người ký giả này. Mặc dù đắc cử, dân biểu này vẫn bị tòa phạt 40 giờ phục vụ cộng đồng và 20 giờ học tập để biết kiềm chế sự giận dữ. Có thể trong một lúc nóng giận, vì thiếu tự chủ, vị dân biểu này đã có hành vi nông nổi như thế. Nhưng điều đáng suy nghĩ là mới đây, hôm 18 tháng Mười vừa qua, tại một cuộc tập trung vận động bầu cử tại Thành phố Missoula, Tiểu bang Montana, Tổng thống Donald Trump đã hô hào đám đông hãy dồn phiếu cho dân biểu Gianforte. Nhắc lại cử chỉ bạo động của dân biểu Gianforte hồi năm trước, Tổng thống Trump đã ca ngợi ông này là một “người vĩ đại” (a great guy). Tổng thống còn nói: “bất cứ ai có thể “thượng cẳng chân hạ cẳng tay”, đều là mẫu người của tôi” (Any guy that can do a body slam-he’s my kind of guy). Điều đáng lo ngại hơn là sau lời “ca ngợi” trên đây của Tổng thống Trump, đám đông đã vỗ tay reo hò! Đám đông đã cuồng nhiệt tán thưởng một hành vi bạo động cũng như một lời nói cổ võ bạo động.

Dĩ nhiên, trong một xã hội văn minh như Hoa Kỳ, không những cử chỉbạo động của dân biểu Gianforte là một hành vi đáng trách, mà việc một tổng thống công khai cổ võ cho bạo động lại càng đáng lên án hơn. Khi được hỏi về thái độ của Tổng thống Trump, một nữ phát ngôn viên của Thủ tướng Anh Theresa May đã trả lời: “Bất cứ một hành vi bạo động hay đe dọa nào chống lại một ký giả cũng đều là điều không thể chấp nhận được”. Tại Hoa Kỳ, nhiều ký giả đã đồng loạt lên tiếng về thái độ của Tổng thống Trump. Thông tín viên của báo the New York Times đã viết trên Twitter: “Gianforte là người có hành vi phạm pháp. Ông đã nhận tội. Nhưng tổng thống lại đi ca ngợi một kẻ phạm pháp về hành động phạm pháp này”. Ký giả Sheryk Gay Stolberg, cũng của báo The New York Times, viết rằng “đây là lần đầu tiên một tổng thống đã công khai và trực tiếp ca ngợi một hành vi bạo động chống lại một ký giả trên đất Mỹ”.

Nhận định của chủ bút báo the Guardian, bà Katharine Viner, lại càng đáng suy nghĩ hơn: “Vào giữa lúc các ký giả trên khắp thế giới đang bị sách nhiểu, bắt giữ và ngay cả bị giết chết, đây là những  lời (lời khen ngợi của tổng thống Trump dành cho dân biểu Gianforte) vô cùng thiếu trách nhiệm. Đó là một cái tát vào mặt tự do báo chí và gởi đi một thông điệp nguy hiểm cho các nhà chuyên chế và độc tài trên khắp thế giới”.

Nhận định trên đây của chủ bút báo the Guardian không thể không gợi lại cái chết bi thảm của ký giả Jamal Khashoggi, người bị sát hại ngay trong tòa lãnh sự của Vương quốc Á rập Saudi tại Thổ Nhĩ Kỳ. Cái chết của ký giả Khashoggi đã phơi bày một bộ mặt đáng sợ của thế giới ngày nay: nhiều chính phủ chuyên chế và chế độ độc tài hiện đang công khai sử dụng bạo lực để bịt miệng, đàn áp và ngay cả tiêu diệt bất cứ một tiếng nói bất đồng chính kiến nào. Đáng sợ hơn chính là sự im lặng đồng lõa của chính các chế độ tự nhận là dân chủ trước cách hành xử bạo lực này.

Thật ra, bạo lực, nhứt là bạo lực của những kẻ có quyền, lúc nào cũng là biểu hiện của sự yếu nhược và sợ hãi.  Chính vì sợ hãi mà con người có hành vi bạo lực, trong lời nói cũng như hành động, đối với người khác.

Triết lý nhân sinh của Lão Tử (600-500 trước Công nguyên) gợi lên cho tôi một sức mạnh khác. Theo truyền thuyết, lúc nhỏ Lão Tử thụ giáo với một lão sư tên là Thường Tung. Khi Lão Tử trưởng thành thì cũng là lúc vị lão sư đã già yếu. Một hôm, biết thày mình không còn sống bao lâu nữa, Lão Tử đã tiến đến bên cạnh giường của thày và hỏi: “Xem ra thày khó qua khỏi.Dám bạch thày còn điều gì để dạy bảo con không?”

Lão sư Thường Tung không nói gì mà chỉ há miệng ra cho Lão Tử xem, rồi lấy tay chỉ vào miệng và thều thào hỏi: “Lưỡi của ta còn không?” Không hiểu thày mình muốn nói gì, Lão Tử hỏi lại: “Phải chăng thày đã bệnh đến mức lẫn rồi sao? Sao thày lại hỏi như thế? Không còn lưỡi thì sao thày có thể nói chuyện được?”

Vị lão sư lại hỏi tiếp: “Thế răng của ta còn không?” Vẫn chưa hiểu được ý của thày, Lão Tử trả lời: “Thưa thày, răng của thày rụng hết rồi ạ”

Lão sư Thường Tung hỏi thêm: “Thế con có biết vì sao ta không còn răng không?” Ngẫm nghĩ một giây lát Lão Tử thưa: “Thưa thày, bởi vì lưỡi của thày mềm nên còn. Răng rụng bởi vì răng cứng, có phải vậy không thưa thày?

Lão sư khẽ gật đầu rồi nhắm mắt.

Về sau, nhớ lại bài học của lão sư Thương Tung, Lão Tử đã viết trong “Đạo Đức Kinh” rằng “nhu thắng cương, nhược thắng cường”. Ông lấy sức mạnh của nước  để minh họa: không gì mềm yếu hơn nước, vậy mà nước lại có thể công phá được mọi thứ cứng rắn nhứt.

Ngày nay, sau cuộc tranh đấu bất bạo động của Mahatma Gandhi tại Ấn Độ và rất nhiều cuộc cách mạng bất bạo động tại nhiều nơi trên thế giới, sức mạnh mềm thường được nhắc tới. Hiểu một cách đơn giản, sức mạnh mềm chính là sức mạnh của bất bạo động, của tình thương, của lòng vị tha, của sự tử tế, của tinh thần khoan nhượng, của cảm thông, của tha thứ…Tương lai của thế giới tùy thuộc vào sức mạnh mềm ấy và dĩ nhiên sự trưởng thành thực sự và định mệnh của mỗi một con người cũng tùy thuộc vào sức mạnh mềm ấy.

Chu Thập

 

 

 

 

 

Be the first to comment

Leave a Reply