BẾN TRE: Địa linh nhân kiệt

 

Tỉnh Bến Tre là một tỉnh có địa lý khá đặc biệt, một nửa thuộc về miền Đông, một nửa thuộc về miền Tây nên khí khậu chịu ảnh hưởng cả hai vùng. Tuy nhiên nhờ có sông Ba Lai, sông Hàm Luông chia ra thành ba Cù Lao nên đất đai rất là trù phú. Từ nơi cửa Đại chạy lên, đó là cù lao An Hoá. Ở đây được đặt tên là huyện Bình Đại, từ thuở sơ khai mở đất cho tới sau nầy cũng không có gì thay đổi.

                                              Cầu Hàm Luông

Từ trên sông Tiền đổ về phía bên kia là tỉnh Tiền Giang, còn phía bên nầy là tỉnh Bến Tre mà ngày xưa trước thời 1975 còn gọi là tỉnh Kiến Hoà, do chánh quyền của Miền Nam thành lập. Cái thời giặc giã nổi lên ác liệt, con đường từ Bình Đại chạy lên huyện Châu Thành bị đắp mô phá hoại xe cộ không đi được phải đi bằng đò máy, nên cư dân từ huyện Bình Đại phần đông tản cư hoặc đi học đều dồn lên tỉnh Tiền Giang. Cũng chính vì vậy mà có nhiều người tuy mang tiếng là dân Bến Tre, nhưng thật sự không biết gì nhiều. Có lẻ vì do hoàn cảnh điạ dư đi lại, và chiến tranh vào thời đó đang leo thang, nên chỉ cần đi qua Cầu Bắc Rạch Miễu – Mỹ Tho là thuận lợi trong việc mua bán và nuôi con ăn học.

Riêng huyện Bình Đại là một huyện nằm chót mũi cồn, lưng giáp biển nên phần đông cư dân ở đây sống bằng nghề làm ruộng và đánh cá, chài lưới, giăng câu, nuôi nghêu, sò, vọp, ốc viết, ba khía, cua biển, câu kiều. Còn từ trên xã Vang Quới chạy lên đụng tới sông Ba Lai nhờ nước ngọt nên dân chúng họ lập vườn. Phần đông trồng dừa ta bán dừa khô, hoặc dừa sấy cho mấy vựa trên Mỹ Tho, đường sông vào thời đó rất là sung túc, xã nào cũng có mấy chiếc đò máy chở khách vào lúc hừng đông. Cũng chính vì vậy mà ngôi trường trung học Nguyễn Đình Chiễu Mỹ Tho ngày nay, ngày xưa phải gánh cho rất nhiều học sinh từ nơi huyện Bình Đại lên dự thi vào lớp đệ thất. Đứa nào đậu thì kể như đã thấy được ánh sáng của tương lai. Vì ngôi trường Nguyễn Đình Chiễu là một ngôi trường nổi tiếng lúc bấy giờ, nên những vần thơ Lục Vân Tiên thường được người dân ngâm nga trong những đêm trăng tà soi bóng trên chiếc xuồng câu, hoặc ghe thương hồ đang chèo nước ngược để tìm về bến đậu…

Còn phía bên kia sông Ba Lai là cù lao Bảo, được dòng nước ngọt từ Sông Tiền, Sông Hậu đổ về. Hằng năm lượng phù sa bồi đắp cho vườn tượt cây trái bốn mùa, nên cư dân có đời sống thật là sung túc. Chỉ có một số xã nằm rải rác ở huyện Ba Tri từ xã Bão Thạnh chạy lên tới xã Châu Bình thì bị nước mặn nửa năm, nên dân chúng ở mấy xã nầy phải vất vả tới mùa nước mặn. Tuy nhiên trời sanh voi thì sanh cỏ. Vùng giáp nước nào cũng vậy, nước lợ đất bùn do phù sa bồi đắp lâu đời, nên cua cá, tôm và các loài giáp xác sanh sôi nhiều lắm. Như cua và cá kèo, cá đối, cá ngát, tôm càng đầy nhóc dưới kinh. Người nào chịu cực chỉ cần xách miệng chài, hoặc chiếc nom đi quần một hồi thìăn làm sao cho hết.

Còn trên rừng thì một rừng chà là, cây đước, vẹt, giá, bần, mắm, cóc kèn, ô rô, dây muôi, dừa nước dày đặc ban ngày còn không thấy đường đi, cứ chiều khoảng chừng 3-5 giờ là cò, diệc, le le, sếu bay về hằng đàn không biết bao nhiêu mà kể. Cây chà là nó mọc thành buội, rồi thành khóm, thành lùm. Cây cao chừng 3 thước trở lên thì người dân ở đây họ đốn đem về cất nhà, cất chuồng heo hoặc chở lên vựa bán. Còn cổ chà là nào mới mọc lên chừng 3 – 5 tấc sàn ngang, khi tới tháng 3 âm lịch thì con đuông chà là đã nằm trong đó. Người dân đi đốn đuông họ rất rành nghề, chỉ nhìn vào buội chà là rồi coi cái đọt của nó thôi, đọt nào có cứt đuông đùn ra thì họ lấy rựa nghéo ruồng cho sạch gai rồi xắn dưới củ hủ chừng 1 tấc.

Lăng mộ Nguyễn Đình Chiễu

Thế là yên chí con đuông chà là cứ nằm yên trong đó thong dong rồi lớn mỗi ngày. Vì cái củ hủ chà là để cả tháng không hư, đời con đuông đang bị treo trên nẹp vách, mà nó cứ ngở còn đang sống trong rừng rậm mà chẳng biết sợ sệt điều chi. Có lẽ nhờ vậy mà nó mới mập ú tròn quay, nên trong ruột của nó không bao giờ có cứt. Đó là một con vật lúc sống thì nằm sẵn mà ăn, còn khi chết cũng được bày trên dĩa bàn sang trọng. Chỉ có lúc ở nhà quê thì cái chết của nó mới nghèo nàn, vì dân quê họ chỉ cần cặp gấp nướng than, rồi dầm nước mắm chan cơm hoặc chắm rau luộc ăn thật là ngon miệng…

Đời sống của con đuông nó chỉ rộ lên từ tháng 2 âm lịch, cho tới tháng 5 thì chấm dứt. Vì tới tháng đó mùa mưa trút xuống. Con đuông sẽ lớn dần, rồi mọc cánh thành con Kiến Vương, bay đi trong rừng chà là rồi chết. Một cuộc sanh tử luân hồi như vậy cứ tiếp tục trong rừng. Từ đời nọ cho tới đời kia, cho đến một ngày nào đó con người biết cách “ăn đuông”. Thế là con đuông chà là đã trở thành một món ăn đặc sản ở vùng đất Bến Tre, lâu dần nó sẽ lan tới các tỉnh thành. Rồi người Hoa Kiều ở Chợ Lớn họ đã nghĩ ra nhiều cách ăn cầu kỳ khác nữa…

Mộ Võ Trường Toản

Ngày nay rừng chà là từ tỉnh Bến Tre chạy dài tới Cà Mau bị san bằng phá sạch, con đuông chà là không còn nữa, nên người ta phải ăn đuông dừa. Chớ ngày xưa con đuông dừa bị chê, vì dai, không béo. Còn đuông chà là vừa béo, vừa thơm. Nấu một nồi cơm nếp, chỉ cần vài con đuông chà là cặp gấp nướng than cho vàng, rồi ngắt đít ra bỏ vào trong nồi cơm nếp đậy nấp vung lại. Chừng một lát sau mở vung ra, thì mùi thơm bát ngát bay toả cả một vùng. Còn nếu muốn ăn sang như dân thành thị, lăn bột mì chiên giòn thì không có thứ gì sánh kịp.

Cây dừa nào mà có đuông thì kể như đã chết. Vì cổ củ hủ bị đuông ăn, thông thường cây dừa nào có đuông thì chặt xuống, có khi chành cái cổ hủ ra lên tới cả trăm con đuông, hoặc năm bảy chục con là thường. Sự ăn uống của con người không biết bao nhiêu cho đủ, nên con đuông dừa hôm nay không nhiều. Người ta phải nuôi nó bằng xác mía trong thùng mốp như nuôi nấm rơm, nhưng bị chánh quyền nghiêm cấm nên họ chỉ nuôi lén mà thôi. Khi con đuông lớn lên tới lứa thì phải xuất “chuồng”. Nhưng phải có mối lái thân tín tới mua, chớ còn người lạ thì họ không dám bán.

Bây giờ dân nhậu muốn có mồi đuông, thì phải có ông thần thổ địa mua dùm. Chớ còn không làm sao mua được. Cũng chính vì bao lẻ đó, mà con đuông ngày nay nó đã trở thành huyền thoại trong cái đám ăn nhậu hiện giờ. Nhưng khổ nổi con đuông nó là một loài sâu nhọng, nên nó cũng “xẩy” ra ngoài hoài. Rồi nó sẽ lớn lên, mọc cánh để thành con “Kiến Vương” trở lại. Sau đó nó bay lên trên ngọn dừa đục cổ hủ rồi làm ổ đẻ ấu trùng vào trong đó. Thế là cây dừa sẽ chết, dân chúng họ đi thưa, nên hiện nay chánh quyền đã ra lịnh cấm đoán thật là nghiêm nhặt. Nhưng việc nuôi đuông vẫn còn. Vì đó là một công việc sanh nhai, nên người dân ở thôn quê không sao bỏ được…

Con sông Hàm Luông chẻ đôi trung tâm tỉnh lỵ ra làm hai. Phía bên kia là cù lao Minh lập thành huyện Mõ Cày. Ngày hôm nay đã có bắt một cây cầu đúc bê tông chạy qua tỉnh Trà Vinh. Thế là tỉnh Bến Tre đã trở thành một tỉnh trung chuyển, từ trên Sàigòn đổ về đi các tỉnh miền Tây. Vì băng đường tắc từ Bến Tre qua Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ và các tỉnh khác rút ngắn được khoảng cách rất là đáng kể.

Ông Năm Công đang tỉa cây cảnh trong vườn

Cây cầu Hàm Luông khởi công ngày 17/01/2016 với tổng kinh phí là 786 tỷ đồng. Thiết kế bê tông cốt thép. Tổng chiều dài 8.2 km. Cầu chính dài 1.28km. Bề rộng 16m, chiều cao 29.5 mét. Cầu trên tuyến dài 450m, đường dẫn hai đầu dài 6.4km.

Cầu Hàm Luông nằm trên tuyến đường quốc lộ 60, bắc qua sông để nối liền cùlao Bảo và cù lao Minh, nên hằng ngày số lượng xe cộ chạy trên đường nầy rất là đông đúc. Nhờ vậy mà tỉnh Trà Vinh mới xây dựng được nền kinh tế địa phương, hôm nay đã có mở trường Đại Học Y Khoa. Tuy chưa đủ các khoa như trường Đại Học Cần Thơ, nhưng cũng đủ đáp ứng như cầu cho các tình vùng đồng bằng Nam bộ.

Từ khi cây cầu Hàm Luông được khánh thành, nó đã nối lại được huyện Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, huyện Chợ Lách, huyện Thạnh Phú. Phải nói rằng ngày hôm nay mấy huyện nói trên, đã đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng về cây trái. Như bòn bon, chôm chôm nhản, sầu riêng, măng cục và nhiều loại trái cây khác nữa. Ngon ngọt không thua gì cây trái của Thái Lan, nên nhà vườn ởđây họ rất tự hào, khi mang sản phẩm ra bán ngoài thị trường. Vì hằng năm họ đều có đem sản phẩm đi tham dự Hội Chợ Nông Sản Mỹ Tho, hoặc trên Sàigòn cũng đều đứng nhứt.

Tỉnh Bến Tre ngoài vườn tượt cây trái ra, còn có mấy ngôi mộ danh nhân như: mộ ông bà Nguyễn Đình Chiễu, Võ Trường Toản, nhà lưu niệm Trương Vĩnh Ký, Phan Thanh Giản được người dân tôn thờ gìn giữ.

Sự phát triển của dòng lịch sử tỉnh Bến Tre tuy hơi chậm, nhưng nó đã mang tánh cách chiến lược lâu dài. Tất cả các huyện ngoại thành đã xây dựng được những con đường tỉnh lộ cấp quốc gia. Như con lộ mang tên 883 bắt đầu trên huyện châu thành tỉnh Bến Tre, chạy xuống tới biển Thừa Đức huyện Bình Đại dài hơn 60 cây số. Phải xây dựng 10 cây cầu cốt thép xi măng, bề ngang có 4 đường xe chạy. Còn từ trên huyện Mỏ Cày Nam chạy xuống tới huyện Tân Phúđã có tới 2 con đường. Một đường khi qua cầu Hàm Luông quẹo trái, còn một đường thì cặp bờ sông. Cho nên khắp thôn quê chỗ nào cũng đi lại dễ dàng, có dịp về Tân Phú mới thấy được sự hấp dẫn của một tỉnh Bến Tre Nam Bộ…

Khu Lăng Mộ cụ Nguyễn Đình Chiễu nằm tại xã An Đức huyện Ba Tri. Khởi công xây dựng năm 2000. Khánh thành năm 2002. Diện tích 13,000m2. Phía trước sân rộng lát đá và trồng cây xanh rất là uy nghi yên tỉnh. Tượng cụ Đồ Chiễu được đúc bằng đồng – thau. Khối lượng nặng 1.2 tấn. Mộ của cụ khắc chữ Nhật. Mộ cụ bà Lê Thị Điền khắc chữ Nguyệt và gần đó là mộ của nhà thơ Sương Nguyệt Ánh là con gái của cụ…

Khu mộ Võ Trường Toản nằm tại xã Bão Thạnh huyện Ba Tri cách đó cũng không xa nhưng rất khiêm nhường. Có lẻ ví chánh quyền sở tại họ đã xếp theo công bọc.

Mộ quan đại thần Phan Thanh Giản nằm tại ấp Thạnh Nghĩa, xã Bão Thạnh huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre. Nếu ai có dịp đi về Ba Tri cũng nên ghé vào thắp nhang tưởng niệm những bậc tiền nhân. Vì những vĩ nhân nầy đã khai phá và mang lại cho tỉnh Bến Tre nhiều di tích…

Cũng ở trong huyện Ba Tri còn có một nhân vật mang nhiều huyền thoại – đó là “Ông Già Ba Tri”. Danh xưng nầy dường như ngày nay ở miền Nam Kỳ Lục Tỉnh người nào cũng biết. Nhứt là những thế hệ lớp cha ông, còn mấy thế hệ trẻ sau nầy, nếu muốn biết thì phải tìm vào tài liệu. Tôi chỉ xin trích lại một phần nhỏ trong bài “Huyền Tích Ông Già Ba Tri” của tác giả Phạm Thành Long đã đăng trong báo Cữu Long”:

“Vào năm 1742, năm cảnh Hưng thứ 3. Ở phủ Tư Nghiã, nay là tỉnh Quảng Ngải vào mùa gió Nam, có một đoàn ghe bầu đang giông buồm theo gió mà xuôi về đất Phương Nam. Rồi họ dừng chân tại một vùng đất hoang du để khai khẩn và lập nghiệp. Vùng đất nầy ngày đó gọi là đất Ngao Châu, ngày nay là huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre đất đai trù phú.

Người dẫn đầu đoàn ghe bầu là ông Thái Hữu Xưa, có dẫn theo người con là Thái Hữu Chữ, và cháu nội là Thái Hữu Kiểm. Đến năm Canh Thìn 1806, năm Minh Mạng Thứ 5. Cậu bé Thái Hữu Kiểm ngày nào hôm nào đã trở thành một người đàn ông dũng mãnh và có tài thao lược. Từ đó được triều đình phong cho là: Bác Phẩm Bá Hộ, rồi kiêm luôn chức Trùm cả Trưởng. Trùm cả làng An Bình Đông (vùng thị trấn Ba Tri ngày nay…

Những ngày vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh bôn tẩu, tránh sự truy đuổi của quân Tây Sơn thật là khó khăn gian khổ.Nhưng chạy tới Ba Tri thì kể như bước đường cùng. Vì trước mặt là biển cả mênh mông, còn sau lưng là đoàn quân Tây Sơn rượt theo truy sát. Trước tình cảnh đó tại con sông Hàm Luông có một cái cồn nhỏ mọc đầy lau sậy được người ta gọi là Cồn Đất. Nhưng muốn lội vào trong đó ẩn trốn thì phải lội qua một bãi sình lầy, mà nhà vua là thân vàng lá ngọc không thể lội qua. Thế là nhà vua cần một người có sức mạnh phi thường để cỏng…

Không ai có thể làm được việc nầy, ngoài ông Trùm cã Trưởng Thái Hữu Kiềm ra, nên hằng ngày ông phải cỏng nhà vua chạy ra đây ẩn trốn. Còn cơm nước một ngày mấy bận đưa vào, nhưng phải cho người canh gác sợ kẻ gian. Ham tiền rồi lén đi báo cho quân Tây Sơn thì nhà vua hết mong chạy thoát.

Nhà vua phải trốn ở đó rất lâu, khi tướng Trương Tấn Bữu chiêu dụ được nghĩa dũng ở Ngao Châu (Cồn Ngao), mới cho quân sĩ tới đón vua rời nơi trú ấn.Một trang mới của lịch sử bắt đầu. Thời thạnh trị của vùng đất Ba tri, nên ông Trùm cả Kiểm cho thành lập chợ An Bình Đông (còn gọi là Chợ Trong) để cho dân làng tiện việc đi lại bằng ghe thuyền bán buôn giao dịch. Từ các xã như An Bình Đông, Vĩnh Đức Trung, Phú Lễ.

Nhưng trước đó ở làng An Hoà Tây, cách chợ An Bình Đông chừng 3km thôi đã có một cái chợ lập ra từ trước rồi. Chợ đó được gọi là Chợ Ngoài. Thế là trên một con kinh có tới 2 cái chợ. Nhưng dân tình và các ghe thương hồ họ cứ đổ xô vào nhóm ở Chợ Trong, còn Chợ Ngoài thì lần lần vắng khách. Nhưng ở làng An Hoà Tây có ông Xã Hạc đang cai quản vùng nầy, huê lợi bị thất thu, nên đã bỏ tiền ra và bắt dân làng đắp đập ngăn con kinh lại, để không cho ghe thương hồ từ ngoài sông Hàm Luông vào Chợ Trong buôn bán nữa…

“Ông Kiểm bất bình vì hạnh động của ông Xã Hạc bất lương, như vậy thì dân tình khốn khổ, nên ông mới đệ đơn lên Huyện kiện. Quan huyện lại binh vực ông Xã Hạc, đơn bị bác. Ông Kiểm mang đơn lên Phủ kiện tiếp. Ở đây ông cũng bị thua luôn. Vì quan Phủ nêu lý do: “Người ta đắp đập ở trong xã người ta mà ông thưa kiện cái gì”…

Vốn là người nghĩa khí, nên Kiểm không dễ chịu thua. Ông làm đơn kiện ra triều đình ngoài Huế, nhưng vì nóng lòng không thể chờ đợi tới ngọn gió chướng thổi mạnh vào tháng 11 âm lịch hằng năm, mà ông phải đi bằng đường bộ. Trước khi đi. Ông còn thỉnh cầu thêm 2 ông kỳ lão là Trần Văn Tới, và ông Hương trưởng Lê Văn Lợi đi theo làm nhân chứng…

“Sau 6 tháng vượt trường sơn rất là hiểm trở, băng qua hằng ngàn cây số đường rừng. Đêm nằm ngủ trên ngọn cây, cũng có khi bị bịnh phải vào làng, vào Sóc, vào Phum để nhờ người dân địa phương giúp đỡ. Cuối cùng ba ông kỳlão cũng tới được kinh đô đệ đơn lên trình cho vua Minh Mạng. Vua xem xong cảm phục ý chí của 3 kỳ lão, vua còn nghĩ lại trước kia trong thời gian khổ của Tiên Vương lẫn trốn, nếu không gặp được gia đình của ông Thái Hữu Kiềm thì không biết bổn mạng sẽ ra sao. Vì từ trên Đồng Nai bị quân Tây Sơn truy đuổi chạy dồn về vùng đất Ngao Châu, đã được người dân ở đây phụng hầu cơm nước mới được an toàn. Nếu không có chơn mạng đế vương, thì vua Gia Long chắc phải chịu chết trên đường bôn tẩu…

Vua Minh Mạng cho gọi ông Trùm cả Kiểm và 2 kỳ lão vào bệ kiến long nhan để hỏi cho rõ ngọn ngành. Rồi nhà vua phán xử: “Dù là làng riêng. Nhưng rạch chung. Không ai có quyền ngăn cản, hoặc đắp đập để thủ lợi riêng tư. Vậy hôm nay trẩm sẽ truyền lịnh nầy xuống tận tới quan Phủ, Huyện, Xã phải lập tức khai thông con kinh để cho dòng nước dẫn lưu. Nếu ai cố tình làm trì hoãn thì sẽ bị nghiêm phạt theo luật định””.

Từ hành vi cao thượng đó, cụ Trùm cả Kiểm được người đời tặng cho biệt danh là Ông Già Ba Tri với hàm ý cảm phục và biết ơn. Đôi khi trong dân gian họ cũng thêu dệt thêm nhiều huyền thoại. Hiện nay thì dòng họông Thái Hữu Kiểm tới đời thứ 8 vẫn còn sống ở tỉnh Bến Tre, đã có nhiều người làm luật sư tiến sĩ.

Từ cây cầu Rạch Miễu Bến Tre – Tiền Giang chạy qua tới ngả tư rồi quẹo phải đi về hướng Tây thì tới Huyện Chợ Lách.Nơi đây là xứ sở cây trái bạt ngàn. Huyện lỵ nằm chính giữa phiá Bắc là sông Hàm Luông, phía Nam là sông Cổ Chiên, phiá Tây là huyện Long Hồ Vĩnh Long. Nhờ điạ thế sông nước hữu tình như vậy, nên ở nơi đây có rất nhiều nghệ nhân, có rất nhiều bàn tay phù thủy để bắt cây phải ra trái sái mùa.Từđó chở về trên Sàigòn bán cho mấy vựa, ngày nay tháng nào mùa nào cũng có trái cây. Chớ không phải như ngày xưa, phải đợi tới mùa trái cây mới có…

Cũng ở nơi đây tại xã Hưng Khanh Trung huyện Chợ Lách, có nghệ nhân Năm Công đã tạo ra trên 250 sản phẩm bằng hình thể cây cối hiện giờ. Mỗi hình thể là “một nhà cây”. Có mái lợp bằng cây, có cửa sổ, cửa ra vào hứng gió.Một cái nhà cây như vậy nghệ nhân Năm Công cho trồng dưới gốc cột một cây Si. Cây nầy là giống cây Nhựt Bổn nên lá cành đâm tượt ra rất mạnh. Khi nhánh lá ra đủ thì ông cho nhân công leo lên cắt tỉa, uốn nắn theo thế hình thù. Người khách nào đến mua, thì ông cho nhân viên bứng xong chở tới nhà trồng xuống. Việc ông Năm Công làm như việc giỡn chơi, vậy mà chừng vài tháng sau thì đã có một căn nhà cây có mái vòm, mưa gió bão bùng gì cũng không sợ sập.

Tôi có hỏi thì ông Năm Công cho biết, loại nhà nầy ông đã chào hàng bên xứ Singapore, Mã Lai và bán ở bên đó rất nhiều. Còn bên xứ Nhựt Bổn thì họ cũng mới vừa liên lạc. Tôi nhìn sân kiểng của ông đã tạo thành 12 con giáp. Có cặp rồng chiều dài 30 mét với cái đuôi cân đối nổi đẹp dưới nắng mai. Đây là một kỳ công của nghệ nhân trong đời tôi mới gặp. Ông Năm Công rất là hiếu khách, khi biết tôi từ bên xứ Úc trở về. Ông nói nhiều chuyện về việc trồng ươm cây, cũng như việc tạo ra nhà vòm bằng cây cũng là hy hữu.

Trước kia ông cũng là một nông dân chỉ có mấy sào vườn, nhưng vì với cái thú say mê cây cảnh từ nhỏ nên ông mới nghĩ tới cách trồng cây Si Nhựt Bổn. Ông cũng không ngờ giống cây nầy nó hạp với thổ nhưởng Việt Nam một cách lạ lùng, quăng xuống chỗ nào nó cũng sống được và mọc lên rất mạnh.

Buổi đầu ông chỉ mua dây chì về cột làm thành hình mấy con thú vui chơi. Sau đó ông nảy ra ý tưởng táo bạo là làm nó thành một mái nhà vòm để rủ bạn bè vào ngồi uống nước trà hoặc đánh cờ tướng. Tiếng đồn lan truyền hồi nào ông cũng không hay, khi có người tới đặt ông làm cho một ngôi nhà vòm, hoặc bán căn nhà nầy cũng được. Thế là ông chào hàng “nhà vòm Năm Công” là như vậy. Một sự tình cờ như giống Bưởi Năm Roi, hay vú sữa Lò Rèn trên xã Vĩnh Kim tỉnh Tiền Giang cũng có một sự tích gần giống nhau như vậy.

Sau một ngày dong ruổi trên tỉnh Bến Tre. Tôi mới thấy tiền nhân của mình ngày xưa đã lập nên một vùng đất nầy bằng xương máu. Bởi; họ phải thức hằng đêm, đợi cho con nước kém ròng lòi bãi cạn. Rồi bơi xuồng hoặc chèo ghe ra đó lặn xuống xắn đất ôm bỏ lên ghe, đợi nước lớn chèo về rồi thải xuống dần như loài kiến tha lâu đầy ổ. Bởi phần đông sông nước Miền Tây là cồn, là bãi. Nước lớn thì ngập, nước ròng mới lòi phần đất bên trên. Như vậy nếu muốn có một miếng đất lập vườn, thì tổ tiên ở đây họ phải làm như vậy.

Hôm nay thì cây trái tràn ngập đường đi, có chỗ còn ủi lộ trải nhựa cho xe chạy nữa. Một dòng lịch sữ đã đi qua, một cuộc sống mới bắt đầu. Liệu con cháu của chúng ta có biết giữ gìn, hay chỉ biết chơi rồi phá hoại. Đó là một câu hỏi của nhiều người, trong đó có tôi. Khi ngồi viết lại bài nầy, tôi thấy một nỗi buồn man mác./-

Phùng Nhân

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Be the first to comment

Leave a Reply