Cái chết của một bố già mafia tại Úc

                                                                                Tony Sergi

Nền công lý của Úc đã thua trắng khi ông Tony Sergi qua đời tại bệnh viện vào Chủ Nhật vừa qua (31.10.2017) ngay sau khi gia đình tổ chức lễ sinh nhật thứ 82.

Ngoài mặt thì Sergi là chủ của một nông trại trồng nho và lò sản xuất rượu vang tại Griffith nhưng trong thế giới tội phạm thì Sergi được xem là “trùm của các ông trùm”, là ông tổ đã thành lập chi bộ Calabrian Mafia đầu tiên tại Úc, cũng là người đầu tiên bành trướng thế lực kinh tài của tổ chức này với nghề sản xuất và phân phối cần sa.

Ông trùm Sergi cùng đàn em Robert Bob Trimbole là hai nhân vật chính bị tình nghi tổ chức vụ ám sát chính trị đầu tiên của Úc, thủ tiêu ứng cử viên Đảng Tự Do Donald Mackay. Trimbole bị điều tra ráo riết, năm 1981 trốn sang Mỹ, sau chạy qua Pháp rồi dùng giấy tờ giả trốn đến Ireland, tại đây bị cảnh sát địa phương tóm cổ nhưng bỏ tiền ra thuê luật sư chống lại đơn xin dẫn độ, tòa đang xem xét thì trốn sang Tây Ban Nha để rồi ngày 12.5.1987 chết tại một bệnh viện ở đây, thi hài được đưa về Úc mai táng.

Trimbole chưa bao giờ bị đưa ra tòa xét xử nhưng phải chạy như chuột. Còn ông trùm Sergi thì vẫn tà tà hưởng nhàn tại nhà của mình ở Griffith (NSW) mà chưa hề bị truy tố, dù bị nêu tên trong bản phúc trình của ủy ban điều tra độc lập Woodward Royal Commission.

Cựu thám tử Clive Small – người điều tra thành công vụ sát nhân hàng loạt của Ivan Milat và từng là phụ tá Tưu lệnh Cảnh sát NSW – cho rằng khi thanh toán Mackay thì đến nửa tá ông trùm mafia tại vùng Griffith lo dàn dựng trước bằng chứng ngoại phạm: cảnh sát hỏi đến thì luật sư trình ngay chứng cớ, theo đó khi vụ thanh toán diễn ra thì họ có mặt ở nơi khác.

Trong cuốn sách Smack Express: How Organised Crime Got Hooked On Drugs ông Clive Small cho biết bây giờ băng đảng tội phạm đáng sợ nhất là mafia Calabria, còn gọi là “Ndrangheta”, tức mafia gốc gác từ vùng Calabria của Ý.

Cái chết của MacKay

Griffith là vùng quê với nhiều nông trại phì nhiêu của tiểu bang NSW, có thị trấn trung tâm cách Sydney 568 km. Vào thập niên 70 vùng này rộ lên phong trào trồng cần sa, tất cả đặt dưới sự khống chế của hai ông trùm Tony Sergi và Bob Trimbole.

Những trại nho biến thành trại cần sa này trở thành mục tiêu của ông Mackay, chủ nhân một tiệm đồ gỗ ở Griffith. Ông Mackay chuyển sang làm chính trị với chủ trương bài trừ ma túy, đòi hỏi phải tận diệt nạn trồng cần sa trong các nông trại của người gốc Ý tại khu vực của mình. Năm 1974 ông ứng cử vào Hạ viện tiểu bang trong màu áo đảng Tự Do nhưng thất bại. Không nản, năm 1977 ông ra tranh cử tiếp với khẩu hiệu cũ tuy nhiên bị đứt gánh giữa đường. Tối 15.7.1977 Mackay đi uống rượu cùng bạn bè tại Grifft Hotel và đi luôn.

Cảnh sát khám xét chiếc xe van đã khoá chặt bên trong của Mackay thì thấy có vết máu trên xe, chìa khoá vẫn ở trên xe và ba vỏ đạn cỡ .22. Từ đó đến nay vẫn không thể tìm ra xác của ông, cho dù đã kết tội và bỏ tù sát thủ giết mướn trong vụ này.

Lúc đó dư luận và cảnh sát cho rằng các ông trùm ma túy của vùng Griffith đã tổ chức thủ tiêu và sau đó thủ tiêu thi hài. Nhưng cũng có nỗ lực quy kết cho bà vợ, theo đó bà và viên luật sư của chồng thông đồng để tự do tư tình với nhau.

Năm 1979 chính phủ thành lập Ủy ban Hoàng gia Woodward để điều tra vấn nạn ma túy và sau đó ủy ban nêu tên Sergi, Trimbole và nhiều đồng phạm khác. Năm 1983 một thành viên của băng là Gianfranco Tizzoni bị bắt và chấp nhận hợp tác để được miễn tố, khai ra nhiều thông tin với cảnh sát.

Tizzoni từng hùn hạp làm ăn chung với Trimbole tại một cơ sở sửa chữa máy chơi bóng bàn (pinball machines) tại Griffith và Hay.

Thông tin từ Tizzoni cho thấy không chỉ có bàn tay của mafia mới vấy máu của ông Mackay.

Theo đó thì cả cảnh sát và luật sư bào chữa cho các thành viên mafia cũng vấy máu.

Lòi khai của nhân chứng

Tizzoni cho biết ông ta có mặt tại cuộc họp tại lò rượu của ông Sergi vào tháng Năm năm 1977, nơi ông trùm Sergi quyết định khử Mackay.

                                                                                        Tizzoni

Như có thể thấy ở trên, thông tin bên ngoài cho thấy ông Mackay đã ra ưng cử với khẩu hiệu chống ma túy nên trở thành cái gai của ông trùm. Tuy nhiên vấn đề không chỉ đơn giản như vậy: trong cuộc họp ông trùm Sergi đặt vấn đề là “phải khử Mackay” vì ông này không chỉ quậy bằng vụ ứng cử mà còn cung cấp thông tin để cảnh sát phá hủy trại cần sa của mình ở gần vùng Coleambally, tóm cổ và truy tố bốn tay chân.

Sergi tuyên bố là có đủ bằng chứng cho thấy Mackay là mật báo viên: viên luật sư bào chữa cho bốn can phạm trên đã lấy được sổ tay và nhật ký của các sĩ quan điều tra, trong đó nêu rõ Mackay là người cung cấp thông tin về trại cần sa.

Quyết định thủ tiêu Mackay được Sergi đưa ra một cách chóng vách, sau đó giao nhiệm vụ thực hiện cho Trimbole. Giải pháp đưa ra là thuê một sát thủ tại Melbourne để đánh lạc hướng điều tra, rồi đó Trimbole giao cho Tizzoni nhiệm vụ mang số tiền $10,000 để trả cho sát thủ James Frederick Bazley tại Melbourne.

Tizzoni khai rằng đó là vai trò duy nhất của ông ta trong vụ ám sát, tuy nhiên cảnh sát tin rằng Tizzoni có mặt tại bãi đậu xe của Hotel Griffith trong buổi tối hôm đó và góp phần vào việc thủ tiêu xác chết.

Nhờ khai và chịu ra tòa làm chứng vào năm 1986, Tizzoni được miễn tố và sau đó về Ý sống trong cảnh ẩn dật cho đến khi qua đời năm 1988.

Năm 2007, Paul Mackay, con trai của cố ứng cử viên Mackay, viết thư cho nguyên Tư lệnh Cảnh sát NSW Andrew Scipione, yêu cầu mở lại hồ sơ điều tra về cái chết của cha mình, nhấn mạnh rằng không ai trong những kẻ chủ mưu tại Griffith đã bị nêu tên trong bản phúc trình của Woodward Royal Commission bị truy tố.

Lá thư nêu đích danh Sergi và nguồn gốc tài sản bất minh: “Một số cá nhân, đặc biệt là Tony Sergi, nhà sản xuất rượu, vẫn tiếp tục sống tại Griffith và đã giàu có vượt xa thực tế thương mại của mình.”

Sau đó, năm 2008 câu chuyện buôn bán ma túy này được Đài truyền hình số 9 cho lên phim với nhan đề Underbelly: A Tale of Two Cities. Bộ phim tập này tái hiện lại cuộc chiến giữa các băng đảng buôn bán cần sa và bạch phiến tại Sydney và Melbourne trong giai đoạn từ 1976 đến 1986

Đó là thời kỳ mà chiến tranh ma túy ở Sydney và Melbourne bùng nổ dữ dội theo sự bành trướng của nạn nghiện cần sa và heroin, xoay quanh cuộc đời của hai ông trùm ma túy Trimbole và Terry “Mr Asia” Clark.

Ông trùm Trimbole thì đã nhắc ở trên, còn Clark, thủ lãnh của đường dây ma túy New Zealand, kẻ chủ mưu của nhiều án mạng.

Cả trong phim ông trùm Sergi cũng được bỏ qua. Lẽ đơn giản vì cảnh sát không nắm được bằng chứng thuyết phục nào, do đó nếu dộng đến có thể bị kiện.

Lúc đó bộ phim này thu hút được số lượng khán giả kỷ lục với 2.58 triệu người khi vừa chiếu ra mắt và sự việc đã gây sức ép chính trị lớn.

Tìm Năm 2011 Cảnh sát NSW đã treo giải thưởng 200,000 Úc kim cho những ai cung cấp thông tin dẫn đến việc tìm ra hài cốt của ông Mackay. Đến tháng 12 năm 2011 nhận thông tin trên: xác bị vứt bỏ tại Hay, cách Griffith 150 cây số về hướng tây. Theo đó thì sau khi bắn chết, sát thủ đã bỏ xác ông Mackay vào cốp xe hơi và chạy về Melbourne: trên đường, ngang qua một nông trại tại vùng Hay cách đó 150 cây số, họ vứt xác xuống một cái giếng.

Tuy nhiên đến tháng Sáu năm 2013 Cảnh sát NSW mới tìm ra cái giếng này và tiến hành khai quật nhưng không hoàn toàn không tìm thấy hài cốt của ông Mackay.

Sát thủ

Nhân chứng Tizzoni khai rằng ông ta đã được bố già Trimbole mang số tiền $10,000 để trả cho sát thủ James Frederick Bazley tại Melbourne.

Bazley là một tội phạm có nhiều tiền án, đã bị kết tội với một loạt các vụ trộm cướp và bạo hành kéo dài đến 50 năm.

                                                                                      Bazley

Trước sau, Bazley luôn phủ nhận vai trò của mình trong vụ thủ tiêu ông Mackay. Bazley còn tố rằng sát thủ bắn chết ông Mackay là Fred Krahe, một thám tử tại Sydney nhưng có quan hệ với giới buôn bán ma túy.

Tuy nhiên mọi bằng chứng của vụ này đều hướng về ông ta. Năm 1979, chỉ hai năm sau vụ thanh toán Mackay, Bazley còn dính vào hai vụ sát nhân khác, giết chết hai con buôn ma túy Douglas và Isabel Wilson.

Bazley bị bắt và đến năm 1986 bị kết án chung thân vì hai tội sát nhân này, 9 năm tù vì tội tham gia vụ ám sát ông Mackay và 4 năm tù vì vụ cướp số tiền $270,000. Tuy nhiên năm 2001 Bazley được ân xá và sống trong cảnh ẩn dật tại Melbourne. Năm 2009 Cảnh sát đã đến đây để hỏi thăm về tin tức liên quan đến nơi thủ tiêu thi hài ông Mackay, tuy nhiên ông ta từ chối, ông tiếp tục phủ nhận vai trò của mình trong án mạng Mackay.

Bạn chính trị của Sergi

Năm 1986 khi Tòa án đang xét xử sát thủ James Bazley và tên của Sergi được nêu ra trong phiên tòa như là ông trùm mafia. Ngay lúc ngày nguyên lãnh tụ đối lập NSW Nick Greiner (sau trờ thành thủ hiến) đã chộp lấy điều này để chỉ trích Dân biểu Al Grassby của Lao Động, là bạn của Sergi.

Ông Greiner tuyên bố tại NGhị viện NSW: “Đây không phải là lần đầu tiên ông Grassby tuyên truyền và bào chữa cho mafia. Ông ta đã kết bạn và bảo vệ cho những thành phần mafia thư dữ của Griffith suốt 20 năm qua. Bất cứ một cuộc điều tra nào về mối quan hệ giữa ông Grassby với mafia phải có quyền hạn điều tra tình bạn giữ ông ta với Tony Sergi.”

Ông Al Grassby (1926 – 2005) từng là Tổng trưởng di trú trong chính phủ Gough Whitlam từ 1972 đến 1974; ông được xem là người đã khởi xướng chính sách “đa văn hoá” tại Úc và là người đầu tiên nêu ra từ “multiculturalism”. Ông nhậm chức tổng trưởng di trú năm 1972 thì năm 1973 chính phủ Úc chính thức từ bỏ chính sách di dân mệnh danh “Nước Úc chỉ dành cho người da trắng” (White Australia Policy).

Như thế, trên phương diện lịch sử thì ông Grassby là người làm thay đổi diện mạo và màu da của nước Úc, và cùng nhiều thành tích khác trong nỗ lực chống kỳ thị màu da, ông đã được Liên Hiệp Quốc trao Peace Medal năm 1986. Tuy nhiên bề sau ông ta là con người khác hẳn và có “công” làm thay đổi thế giới tội ác và thị trường ma túy Úc. Theo các cáo buộc thì ông Grassby có quan hệ lâu dài với các nhóm mafia Calabrian và đây là những nhà tài trợ hào phóng trong các cuộc vận động tranh cử của ông ta. Chính bằng quyền hạn của một tổng trưởng di trú, ông đã cho phép đội quân mafia này ngày càng nảy nở tại Úc.

Năm 1980, ba năm sau khi ông Mackay bị mất tích thì ông Grassby bị truy tố với tội mạ lỵ, Theo cáo buộc thì ông Grassby đã phát tán nhiều tài liệu giả nhằm hướng sự nghi ngờ vào bà vợ và luật sư của ông Mackay, theo đó bà vợ và tên luật sư bất lương này mới là người phải chịu trách nhiệm về sự mất tích và có thể là cái chết của ông Mackay. Grasby còn bị cáo buộc là thuyết phục ông Michael Maher, một thành viên của Nghị viện NSW, đọc trong buổi họp của Thượng viện NSW.

Tuy nhiên ông Grassby cương quyết không nhận tội và theo đuổi vụ kiện suốt 12 năm, cuối cùng đến tháng 8 năm 1992 ông được trắng án và được bồi thường án phí $180,000. Ông Greiner tuyên bố ông Garssby “tuyên truyền và bào chữa cho mafia” là nhắc đến chuyện này.

Sau khi Grassby qua đời ngày 23.4.2005, báo chí tới tấp phanh phui các mối quan hệ mờ ám của ông. Ngày9.5.2005, tờ The Herald Sun ở Melbourne khởi đăng loạt phóng sự điều tra về chuyện này, khơi rộng cáo buộc nói trên của ông Provost. Theo đó thì ông Grassby đã:

  1. Sử dụng quyền lực của mình để ngăn cản các cuộc điều tra của National Crime Authority vào các băng đảng Mafia.
  2. Cho phép các thành phần tội phạm định cư tại Úc, cá nhân Grassby từng bảo trợ một tội phạm mafia bị cáo buộc nén lựu đạn vào một đồn cảnh sát tại Calabrian, Ý.
  3. Có quan hệ với các băng trồng cần sa tại Griffith. Nhận sô tiền $40,000 của mafia để tiến hành việc bôi nhọ bà quả phụ Barbara Mackay (như đã nêu ở trên).
  4. Giafranco Tizzoni, một trùm Mafia, là kẻ đã tài trợ cho quỹ vận động của Grassby.
  5. Trùm mafia Toni Sergi bị nêu trên trước tòa và cả quốc hội như là kẻ đã ra lệnh thủ tiêu Mackay là một người thân tín của Grassby.
  6. Về hôn nhân thì Grassby là người có cuộc sốt “lá mặt lá trái”: sống “bình thường” với bà vợ chính thức Ellnor Grassby suốt 43 năm và sống “chui” với cô nhân tình Angela Chan.

Cùng lúc đó ông Bruce Provost – chuyên viên điều tra của Cục Bài Trừ Tội Phạm Quốc Gia (National Crime Authority: NCA) đã vế hưu – đã tiết lộ rằng ông Grassby này đã sử dụng các áp lực chính trị để ngăn cản các cuộc điều tra nhằm phanh phui qua hệ giữa ông ta với mafia.

Theo ông Provost thì Grassby đã sử dụng ảnh hưởng cua mình trong chính phủ Lao Động New South Wales và liên bang để cản trở cuộc điều tra. Lấy thí dụ năm 1987, khi chỉ còn 4 tuần nữa là bầu cử, Grassby đã vận động để NCA phái Provost đi công tác nước ngoài, đợi bầu cử xong mới cho về. Lúc đó Grassby sợ rằng Provost sẽ tung chuyện tai tiếng của mình ra, có thể truy tố mình với tội “cản trở công lý”. Sau đó, khi bị truy tố, Grassby lại vận dụng những áp lực để giữ kín nhiều bằng chứng viện lẽ đó là các tài liệu bảo mật (classified). Tiết lộ của ông Provost có sự xác nhận của ông Gary Sturgess, người đã thành lập Ủy ban điều tra độc lập NSW (N. S. W. Independent Commission against Corruption).

Ngòai ra Grassby bị cáo buộc về quan hệ với mafia, chính quyền Whitlam lúc đó còn có ba tổng trưởng đầy tai tiếng khác: Jim Cairns, làm gián điệp cho Liên Sô; Lionel Murphy vừa quan hệ với giới tội phạm vừa hợp tác với mật vụ Nam Tư, và Rex Connor vói những cáo buộc tham nhũng.

Tuy nhiên không phải như thế mà Tự Do “sạch sẽ” trong việc này. Nếu Lao Động có tội mang mafia Calabrianđến Úc thì 12 năm cầm quyền của chính phủ John Howard cũng có những “đóng góp” tương tự.

Nhưng đó là đề tại khác.

Phạm Hiếu

Be the first to comment

Leave a Reply