Chúc mừng Phục Sinh hạnh phúc!

Nhân dịp lễ Phục Sinh của Kitô Giáo, tôi có đi xem cuốn phim “Mary Magdalene” đang được trình chiếu tại Úc. Cuốn phim  dường như muốn phục hồi danh dự cho vị thánh nữ thường được người công giáo Việt Nam tôn kính dưới tên gọi Maria Mađalêna. Thật vậy, kể từ Thế kỷ thứ 6, vị thánh này đã bị đồng hóa với cô gái điếm đã từng đến quỳ dưới chân Chúa Giêsu, xoa dầu lên chân Ngài và dùng tóc để lau như một cử chỉ bày tỏ sự sám hối. Nhưng vào năm 2016, Tòa Thánh Vatican đã chính thức lên tiếng giải thích rằng trong Kinh Thánh Tân Ước, có nhiều người mang tên Maria và thánh nữ Maria Mađalêna không hề là một cô gái điếm. Theo chuyện phim được đạo diễn Garth Davis thực hiện, Maria Mađalêna là một thiếu nữ xuất thân từ một làng đánh cá nghèo ở miền Galilêa. Điều đó có nghĩa là cô là một người đồng hương của Chúa Giêsu. Được Chúa Giêsu trừ quỷ, cô đã bỏ gia đình để  gia nhập vào nhóm môn đệ của Ngài, sống kiếp lang thang không nhà không cửa và đi theo Ngài cho đến khi Ngài bị bắt và bị treo lên thập giá tại Giêrusalem. Trong một chi tiết không được ghi lại trong Kinh Thánh, nhưng được làm nổi bật trong cuốn phim, người ta thấy Maria Mađalêna ngồi bên cạnh Chúa Giêsu trong bữa ăn cuối cùng của Ngài với các môn đệ thường được truyền thống Kitô Giáo gọi là bữa “Tiệc Ly”. Cuốn phim kết thúc với một biến cố quan trọng trong Kinh Thánh: Maria Mađalêna là người đầu tiên được “thấy” Chúa Giêsu Phục Sinh bên một bờ hồ.

Đây chính là cốt lõi của niềm tin Kitô Giáo. Mùa Phục Sinh, các tín hữu Kitô tuyên xưng Chúa Giêsu đã thực sự sống lại. Nhưng riêng tôi, cùng với niềm tin ấy, hàng năm cứ đến dịp lễ Phục Sinh, tôi thường suy nghĩ về sự liên kết và gắn bó giữa người sống và kẻ chết. Chết không phải là hết. Người quá cố vẫn tiếp tục “sống” trong lòng người sống: sống qua sự nghiệp họ để lại, sống qua những kỷ niệm và nhứt là sống qua tình yêu, sự gắn bó giữa họ và người sống. Tôi thường cảm nghiệm được điều đó mỗi khi nghĩ về cha tôi. Cha tôi qua đời khi tôi ở xa. Vì nhiều lý do, tôi không thể về tiễn đưa cha tôi đến nơi an nghỉ cuối cùng. Nhưng cũng kể từ đó, tôi lại thấy gần gũi với cha tôi hơn bao giờ hết. Với tôi, cha tôi không nằm nghỉ yên trong một ngôi mộ ở quê tôi, mà vẫn sống một cách nào đó bên cạnh tôi. Sống đến độ tôi có thể “thấy” và truyện vãn với cha tôi như thể ông đang ở trước mặt tôi. Phải chăng đó không là ý nghĩa của hai chữ “như tại” thường được khắc trong các bức hoành phi của người Việt Nam.

Nếu người sống có thể “thấy” người chết và giữa người sống và kẻ chết vẫn có một mối giây liên kết vượt qua không gian và thời gian, thì giữa người sống với nhau, sự đồng cảm và thần giao cách cảm cũng rất thực hữu.

Văn hào Đức Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832) đã có lần  giải thích về hiện tượng này: “Tất cả chúng ta đều đi trong huyền nhiệm. Chúng ta không biết điều gì đang khuấy động trong bầu khí quyển bao bọc xung quanh chúng ta và liên kết với thần trí của chúng ta như thế nào. Chỉ có điều rất chắc chắn là thỉnh thoảng chúng ta có thể để cho thần trí của chúng ta đi ra khỏi những giới hạn thể xác của nó: linh hồn của ai đó có thể quyết định tạo ảnh hưởng trên một người khác, dù chỉ bằng hiện diện một cách thinh lặng. Tôi có thể kể ra nhiều ví dụ về chuyện này. Đây là điều thường xảy ra cho tôi khi tôi đang đi bộ với một người quen và bất thần một hình ảnh sống động xuất hiện trong tâm trí tôi. Người đó liền tức thì nói về điều đó. Tôi cũng biết có một người, mặc dù không nói một lời nào, đã dùng sức mạnh tâm trí của mình để chấm dứt một câu chuyện đang nói dở dang với người khác… Tất cả chúng ta đều có những một luồng điện và những lực từ trường trong chúng ta. Cũng như một thỏi nam châm, chúng ta dùng chúng để thu hút hay để xua đuổi…Với những người đang yêu, lực từ trường này mạnh một cách đặc biệt và có thể tác động từ xa. Tôi đã từng cảm thấy muốn được ở bên cạnh một cô bạn gái của tôi và đã tưởng nghĩ  đến cô cho đến khi cô đến gặp tôi và nói: “Em cảm thấy đứng ngồi không yên trong phòng của em. Em không chịu đựng nổi cho nên đã tìm đến đây” (x.Jonathan Black, The Secret History of the World, Quercus, London, 2010, trg 272-273).

Những kinh nghiệm mà văn hào Goethe đã kể lại trên đây cũng đã từng xảy ra cho tôi. Có những lúc tôi tin chắc là mình đã đọc được tư tưởng của người khác. Cũng có lúc người khác như thể “đi guốc trong bụng tôi”. Tuy tôi không nói ra, họ hiểu được những tâm tư thầm kín của tôi. Có khi tôi và người thân của tôi cùng một lúc nói lên một ý nghĩ giống nhau. Có khi tôi vừa định gọi cho một người thân nào đó thì chuông điện thoại reo và chính người thân ấy đang gọi đến tôi. Với những người đang yêu nhau, đôi mắt của họ “biết nói”. Tựu trung, giữa người với người, như người Tây Phương thường nói, luôn có một phản ứng “hóa học” (chemistry). Có sự đồng cảm, mà cũng không thiếu ác cảm. Tự nhiên có những người mới gặp, tôi có cảm tình ngay và cũng không thiếu những người, tuy không quen biết, nhưng tự nhiên tôi lại cảm thấy “không ưa” nổi. Thành ra, đồng cảm là điều xem ra tự nhiên, nhưng phải học hỏi, tập tành và trau dồi con người mới biết thế nào là cảm thông với nhau.

Năm 2010, các chuyên gia tâm lý Gia Nã Đại đã cho công bố kết quả của một cuộc khảo sát về mức độ cảm thông khác nhau tại nhiều nước trên thế giới. Cuộc khảo sát đã được thực hiện với khoảng 100.000 người tại 63 nước và dựa trên Chỉ số Tương tác giữa Người với Người (Interpersonal Reactivity Index). Mức độ cảm thông được đo lường bằng hai mệnh đề: “Tôi thường có những cảm xúc dịu dàng và tỏ ra quan tâm đối với những người kém may mắn hơn tôi” và “Khi tôi cảm thấy thất vọng về một người nào đó, tôi thường cố gắng “xỏ chân vào giày của họ” một lúc”.

Kết quả cuộc khảo sát cho thấy có 10 nước đứng đầu thế giới về mức độ cảm thông, được xếp hạng theo thứ tự: Ecuador, Á Rập Saudi, Peru, Đan Mạch, Các vương quốc Á rập Thống nhất, Nam Hàn, Hoa Kỳ, Đài Loan, Costa Rica, Kuwait. Nhìn chung, trong 10 nước đứng đầu thế giới về sự cảm thông, có 3 nước ở Trung Đông, 3 nước thuộc Châu Mỹ La Tinh và 2 nước nằm ở Đông Á. Cuộc khảo sát dường như cho thấy có một số cơ cấu xã hội giúp cho con người biết cảm thông với người khác nhiều hơn. Chẳng hạn những nền văn hóa đề cao cuộc sống tập thể và gia đình thường có chỉ số  cảm thông cao. Trong những nền văn hóa này, con người thường nhận ra mình như một thành phần của một nhóm xã hội và gia đình rộng lớn hơn để từ đó xem trọng sự hài hòa và mối quan tâm đến người khác. Có thể đó là lý do tại sao con người thuộc những nền văn hóa như thế dễ tỏ ra cảm thông hơn với người khác.

Kết quả cuộc khảo sát trên đây khiến cho nhiều người ngạc nhiên không ít khi nhìn đến thứ vị của Phần Lan (Finland). Trong nhiều năm qua, cuộc khảo sát về chỉ số hạnh phúc do Liên Hiệp Quốc thực hiện lúc nào cũng xếp Phần Lan vào hạng nhất nhì thế giới. Nhân Ngày Quốc Tế Hạnh Phúc năm nay, bản phúc trình của Liên Hiệp Quốc đã dành địa vị số một cho quốc gia Bắc Âu này. Dựa vào những chỉ số về phúc lợi của người dân, Phần Lan được chấm là quốc gia hạnh phúc nhứt thế giới. Tuy nhiên, điều khiến cho nhiều người phải đặt câu hỏi là tại sao trong cuộc khảo sát về mức độ cảm thông, nước này lại tụt xuống tới hạng thứ 58 (x.https://www.psychologytoday.com/us/blog/the-empathy-gap/201707/no-empathy-isn-t-universal-value). Có thể vì hạnh phúc của người dân Phần Lan dựa trên những tiêu chuẩn khách quan (phúc lợi xã hội, hạ tầng cơ sở, cơ hội trong đời sống, việc làm, môi trường, y tế, giáo dục…) hơn là chủ quan (sự cố gắng, nỗ lực của cá nhân để thay đổi hoàn cảnh sống của chính họ và những người chung quanh)?

Trong các ý niệm trừu tượng của con người, dù thuộc văn hóa nào, hạnh phúc có lẽ là ý niệm mơ hồ nhứt. Hạnh phúc dường như lúc nào cũng tuột khỏi bất cứ một thứ khung định nghĩa nào. Hạnh phúc của người này có khi cũng khác với hạnh phúc của người khác. Mỗi người hạnh phúc một cách khác. Có người hạnh phúc khi san sẻ và trao ban cho người khác. Có người hạnh phúc khi thấy mình “hơn” người khác ở một điểm nào đó. Có người hạnh phúc khi thấy mình “khá” hơn so với một giai đoạn trước. Có người hạnh phúc theo một cuộc thăm dò này, nhưng lại không hạnh phúc trong một cuộc khảo sát khác. Chẳng hạn, theo sự xếp hạng trong bản phúc trình về hạnh phúc của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đứng tới hạng thứ 95. Còn theo kết quả mới được Tổ chức Nghiên cứu Kinh tế – Xã  hội Nes Economics Foundation thì Việt Nam lại đứng thứ 5 thế giới và thứ 2 trong khu vực Á Châu – Thái Bình Dương. Xem đó thì đủ biết hạnh phúc là một ý niệm rất tương đối. “Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột” là vậy.

Suốt cuộc đời, lúc nào tôi cũng đi tìm hạnh phúc và dĩ nhiên, vì hạnh phúc là một ý niệm tương đối và mơ hồ cho nên lúc nào tôi cũng cố gắng đi tìm cho mình một định nghĩa riêng về hạnh phúc. Nếu mẹ tôi còn sống và tôi được trở lại tuổi thơ thì có lẽ tôi cũng  sẽ bắt chước nhà thơ Đỗ Trung Quân trong nước để hỏi mẹ tôi: “Hạnh phúc là gì hở mẹ?” Mẹ tôi vốn là một bà mẹ “đạo đức”. Nếu quả thực đã thấm nhuần đạo lý của Chúa Giêsu thì có lẽ mẹ tôi sẽ mượn lời của Ngài để trả lời cho tôi: “Con ơi, cho thì hạnh phúc hơn nhận lãnh”.

Năm nào cũng vậy, mỗi dịp lễ Phục Sinh tôi thường gởi thư điện tử hay ngay cả gọi điện thoại để chúc mừng một số bạn bè và người thân “chúc mừng Phục Sinh hạnh phúc” (Happy Easter!). Lạ quá, tôi không hiểu tại sao Giáng Sinh thì người ta chúc nhau “Giáng Sinh vui vẻ!” (Merry Christmas). Còn Phục Sinh thì lại “Phục Sinh hạnh phúc”. Cứ như Phục Sinh là dịp để đào sâu về ý nghĩa của hạnh phúc và cố gắng sống hạnh phúc.

Tôi nhìn lại gương mặt thật đẹp và dễ thương của nữ tài tử Rooney Mara, người thủ vai thánh nữ Maria Mađalêna trong cuốn phim Mary Magdalene. Rạng rỡ nhứt là khi cô “thấy” lại Chúa Giêsu phục sinh bên bờ hồ. Ánh mắt của cô toát lên niềm vui và hạnh phúc đích thực của một người đang “thấy” người Thày chí thánh và thân yêu của mình.

Nghe nói cuốn phim Mary Magdalene được tặng cho một giải “Mâm Xôi” (Rotten Tomatoes) khá bự. Tôi không đủ trình độ phân tích nghệ thuật để phê phán về cuốn phim. Chỉ biết rằng sau khi xem cuốn phim tôi cảm nhận được một chân lý: khi người ta “thấy” và cảm thông được với người khác, đó là lúc con người hạnh phúc.

Cũng như mùa Giáng Sinh vui vẻ, mùa Phục Sinh hạnh phúc là mùa mời gọi tôi biết cố gắng ra khỏi cái tôi ích kỷ của mình để tưởng nghĩ đến người khác nhiều hơn, nhứt là những người bất hạnh và kém may mắn hơn tôi. Tôi tưởng tượng mình nghe được lời mẹ tôi nhắn nhủ: “Cho thì hạnh phúc hơn nhận lãnh, con ơi!”.

Chu Thập

 

Be the first to comment

Leave a Reply