Công Trình Cống Đập Sông Ba Lai: Lợi và Hại

Con sông Ba Lai (thuộc tỉnh Bến Tre) trước kia là một con kinh đào, bề ngang rộng chưa đầy 30 mét. Bắt đầu từ trên trên xã An Hoá ngoài đầu vàm sông Tiền chạy dài xuống tới xã Bão Thạnh rồi ra cửa biển.
Trải qua bao năm tháng con kinh đào bị nước chảy xoáy mòn, lở rồi lớn dần trở thành một con sông mang tên sông Ba Lai cho tới ngày hôm nay, có chỗ rộng từ 200m tới 300m. Đáy sông sâu từ 3m tới 5m. Có khúc có cồn ngầm, nên con sông có tiếng hung dữ vào mùa gió chướng thổi về. Khi ghe xuồng nào bắt buộc phải đi qua, nhiều cơn sóng dữ đập vào dường thể muốn nhận chìm, vì lòng sông đang chứa ngầm những điều bí ẩn mà con người không bao giờ biết được.
Trên dòng sông còn có Cồn Dơi, Cồn Qui, Cồn Bà Tam, Cồn Thùng. Những cồn nầy có cồn họ cất tạm nhà chòi để ở, phần đông thì họ phá rừng làm ruộng cấy lúa, hoặc trồng cây lác để bán cho những người dệt chiếu. Vì thế mà người nào nghèo tìm đến nơi đây, chịu cực thì cũng có thể kiếm được miếng ăn, nên con cái của họ thường hay thất học.

Từ trên vàm sông An Hoá chạy xuống tới xã Bão Thạnh, con sông nầy còn bụng mang dạ chửa rồi đẻ ra thêm nhiều con kinh, con rạch, con xẻo đã mang chất phù sa vào bồi cho châu thổ ruộng đồng. Nhờ vậy mà hằng ngàn mẫu ruộng tại đây, mới có đủ chất dinh dưỡng nuôi ruộng đồng và vườn tược hoa mầu bất tận. Còn từ xã Lộc Thuận chạy dài xuống tới Bà Nhiên là vùng nước mặn, nên cua cá sanh sản rất nhiều. Những con xẻo nhỏ chạy lên bào, lên ruộng, lên lung đã tạo thành những ao, hồ, vuông cho biết bao nhiêu loài thủy sản. Cặp theo con sông Ba Lai thì rừng mắm bạt ngàn, cây bần (thủy liễu) de ra mé sông hằng đêm cho bầy đơm đớm lập loè. Cây đước, cây vá, cây dừa nước, cây vẹt, cây mắm và nhiều loại cây khác nữa đã giúp cho dân chúng ở vùng nầy có phương tiện cất nhà để ở chẳng tốn tiền.

Vì vậy nếu tính từ nơi con rạch Cái Muồng trở xuống, thì con sông Ba Lai chia thành hai khu vực. Một khu vực nước ngọt từ xã Thới Lai trở lên cho tới đầu vàm xã An Hoá (cồn An Hoá). Còn từ xã Lộc Thuận chạy xuống tới xã Bão Thạnh ra tới cửa biển thì nước mặn kể từ tháng 11 âm lịch hằng năm cho tới tháng 5 khi trời sa mưa dông rớt hột thì nước lại ngọt lần, để từ đó dân làng gieo mạ rồi cấy lúa.
Còn ở dưới làng Bảo Thạnh thì đã có hằng trăm mẫu ruộng muối chạy dài bất tận. Cứ đến đầu tháng Giêng khi trời nắng gắt, thì người dân ruộng muối khai mương cho nước biển tràn vào. Sau đó họ phơi khô, đợi cho nước sắc xuống thành muối, rồi họ lấy bồ cào vun lên thành đống. Một đời sống của cư dân ở đây quanh năm bên những đụng muối cao đùn. Họ gánh, họ vác trên những bờ mẫu lêu nghêu, với những bước chân trần đen ngời vì muối mặn.
Muối ở vùng Bão Thạnh, là loại muối chắc hột không thua muối Bạc Liêu. Nhờ vậy mà dân Diêm ở đây người nào cũng đủ ăn, có người còn cất được một ngôi nhà bằng cột cây căm xe bề thế. Còn cá cua thì nhiều vô số kể. Bởi nước mặn sẽ sanh ra rất nhiều loại cá trên ruộng đồng. Như cá Thòi Lòi, Bóng Sao, Nha, Cua, Còng, Vọp, Óc Viết, Nghêu, Sò Huyết, Sò Lông và nhiều thứ khác nữa. Còn dưới nước ở trong kinh, rạch, xẻo, lung. Chỉ cần chịu cực xách giỏ đi thụt chừng một lát thì cả nhà ăn làm sao cho hết.
Càng ra gần cửa biển chừng nào thì nước mặn càng dữ, nên xã Bão Thạnh chỉ có ruộng muối chớ không có trồng lúa. Nhưng trời đất, thiên nhiên đã sắp đặt một cuộc sống của con người, có những con giồng do gió cát tạo thành nhiều ngàn năm, sau đó thuần thục chỉ cần đào xuống chừng 2m đất là có nước ngọt để uống. Nhờ vậy mà con người mới sinh tồn và bảo toàn nòi giống. Trên đất giồng thì người dân trồng dưa hấu, khoai lang, đậu phộng, và các thứ hoa màu, nên người dân ở đây, nước da của họ như pho tượng đồng đen biết đi và biết nói.

Bên cạnh những con giồng, còn có những cái bưng, có chỗ rộng tới mấy chục mẫu tây để chứa nước mưa cho dân tình làm ruộng. Con người là một bộ óc thông minh có thể chinh phục được thiên nhiên, nên cuộc sống mỗi ngày thêm phong phú. Qua bao năm tháng thăng trầm, cuộc đất giồng vừa làm chỗ cất nhà để ở, vừa là chỗ chòm xóm với nhau, nên tổ tiên đã đặt tên vừa nghe qua cũng đã thành hình tượng. Như xóm Giồng Đùi, xóm Giồng Đài, xóm Giồng Trên, xóm Cây Găng, xóm Cây Me, xóm Bưng Lớn, xóm Tà Nhọn. Hình như khi đặt tên như vậy, tổ tiên chỉ gọi cho dễ nhớ. Lần lần khu xóm thành hình, làng xã lập nên. Kể từ đó lập nên sổ bộ cho tới bây giờ, và cho tới tận ngày sau…
Sau đó nhờ sự văn minh tiến bộ của loài người, họ biết chằm nón lá, nón tơi, nón đệm để đội lên đầu trong lúc trời nắng trời mưa. Mải cho đến mấy trăm năm năm sau nầy họ biết cách dùng khẫu trang và bao tay, nên nước da của họ cũng lần lần thay đổi.

Bất cứ xã nào cũng đều có những con giồng, và đất rọc cát nà, để khi tới mùa mưa giữ nước lại làm thành một cánh đồng bưng. Tổ tiên của con người nằm ở trong mấy cái xã nầy mới đấp bí nước lại rồi làm ruộng, đào ao nuôi cá cất nhà. Còn ra giêng khi trời hạn hán thì đào giếng lấy nước ngọt nấu ăn. Tổ tiên còn đắp một con đê từ nơi An Hoá chạy dài ra cửa biển. Một sự tiến bộ thật không ngờ, một nền văn minh sơ khai đầy hào hùng và bất khuất.
Ngay như ông bà cha má của tôi, từ xứ Quảng giong một chiếc ghe bầu theo mùa gió chướng xuôi Nam, rồi quẹo vô con rạch Cái Muồng bắt đầu lập nghiệp. Từ những cái rựa ngoéo với tay trần khai phá rừng rậm chống lại thiên nhiên với nhiều thú dữ. Những cơn bịnh dịch hoành hành, cho nên ngày xưa ông bà tôi người nào hưởng thọ tới tuổi 60 là ăn mừng lễ Đáo tế.
Nếu tính theo chiều dài của con sông Ba Lai cho tới ngày nay, thì nó đã có được bao nhiêu con rạch. Như: rạch Bà Tám, thuộc xã Phú Đức và Thành Triệu. Rạch Phú Hữu xã Phước Thạnh và xã Hữu Định thuộc huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre. Rạch Khai Luông xã Phước Thạnh huyện Châu Thành. Rạch Chẹt sậy thuộc xã Phong Nẩm và xã Phú Hưng. Rạch Ba Tri Rơm thì thuộc xã Châu Hoà huyện Giồng Trôm.
Rạch Cái Muồng thuộc xã Lộc Thuận và Thới Lai. Rạch ông Hổ xã Châu Bình, Giồng Trôm, Mỹ Hoá, Thới lai, rạch Giồng Kiến, rạch Ao Vuông, rạch Gừa. Ngoài những con rạch, dòng sông Ba Lai còn đẻ ra thêm con kinh. Đó là kinh Số 1, thuộc xã Bình Thới, xã Thạnh Trị huyện Ba Tri.
Tới đây con sông Ba Lai lại đẻ ra những con rạch nữa. Đó là rạch Mỹ Nhiên, thuộc xã Mỹ Chánh, Tân Xuân, Mỹ Hoá huyện Ba Tri. Rạch Xẻo Tượng thuộc xã Đại Hoà Lộc huyện Bình Đại. Rạch Chim xã Đại Hoà Lộc huyện Bình Đại. Rạch Khiêm xã Thạnh Phước thông qua với kinh ông Cai thuộc huyện Bình Đại.
Một con kinh buổi đầu do dân đào bề ngang chỉ rộng chừng 30 mét. Vậy mà hôm nay nó đã trở thành một con sông lớn nước chảy ngập bờ. Một con sông Ba Lai mà tất cả ghe thương hồ có dịp đi qua, cho dầu người tài công có kinh nghiệm tới bực nào, thì họ cũng phải e dè khi từ vàm kinh Chẹt Sậy chạy ra sông cái, để từ đó ra vàm An Hoá rồi đi về trên thành phố Sàigòn. Họ phải đương đầu với những lượng sóng lưỡi búa, sóng giò gà chực hờ đánh chìm bất cứ chiếc ghe, chiếc xuống nào mà người tài công sơ hở.

Ngày 27/01/2000, tỉnh Bến Tre bắt đầu xây dựng Công Trình Cống Đập Ba Lai. Tới ngày 30/04/2002 thì đưa vào sử dụng. Tổng kinh phí là: 66,69 tỷ đồng, một số tiền quá lớn vào thời đó. Đập Ba lai chiều dài ngang qua con sông 544mét. Gồm có 10 cửa, khẩu độ là 84m vận hành bằng van tự động 2 chiều.
Theo quy hoạch hoá nông thôn, thì Cống Đập Ba Lai sẽ phục vụ hơn 115,000ha, trong đó có 88.500ha đất sản xuất nông nghiệp như: nuôi thủy hải sản thuộc huyện Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành và thành phố Bến Tre.
Nhiệm vụ của công trình là ngăn nước mặn, giữ nước ngọt, tạo nguồn ngọt. Tiêu úng, tiêu phèn, cải tạo đất để trồng xuống các loại cây ăn trái về sau. Một con đập mang tầm vóc quốc gia, nên chánh quyền Bến Tre đã giống trống khua chiêng trong suốt hai năm liền cho tới khi hoàn tất. Cũng may là đã chọn được nhà thầu có tay nghề chuyên môn, họ nhồi cọc xuống rồi dùng xà lan xúc cát chở lại đổ xuống chẳng bao lâu ló dạng.
Từ nơi mặt đập chạy ra tới cửa biển đúng 10 cây số theo như số liệu đo đạc lúc khởi công, và họ đã lựa đúng chỗ cái voi thắt lại nên cũng thuận lợi trong công việc nhồi cọc.
Cao trình đỉnh đập là: +3.50m. Cao trình đáy sông sâu nhứt là 8m. Chiều rộng mặt đập 10m. Mái đập thượng & hạ lưu 5×10. Nếu tính từ phía bờ bên nây, qua tới phía bờ bên kia là 544m. Hai bên hông đập có xẻ hai mương kiến chạy dài để dẫn nước lưu thông.

Mỗi năm có 2 lần xả đập, tùy theo mùa và còn phụ thuộc vào sức chứa của con đập hiện nay đã có thông báo trên đài phát thanh, trên báo giấy để cho dân chúng biết được mà chuẩn bị mùa màng. Hoặc để cho ghe tàu muốn chung qua con đập, thì phảy chạy tới đây neo đậu, đợi khi nước cạn còn đủ thì chạy qua, rồi đi vòng ra cửa biển rồi đi vào mấy tỉnh khác.
Nếu tính từ khi con Đập Ba Lai đưa vào hoạt động tới nay thì đúng 16 năm tròn, lợi ích về mặt kinh tế rất nhiều, nhưng thiệt hại về môi trường sống của loài hải sản cũng không phải nhỏ. Chỉ cần đơn cử một vài thí dụ nhỏ. Chẳng hạn như con rạch Cái Muồng chiều dài của nó là 10km, bắt đầu đo từ đầu vàm cho tới đụng đầu kinh Thôn Tựu rồi thôi. Nhưng trên thực tế thì từ kinh Thôn Tựu nó còn dẫn lưu dòng nước chạy vòng xuống qua cầu sắt giáp với xã Tân Định, và một nhánh nữa nó chạy qua đụng với Kinh Đình băng qua dây đất Chà Đò rồi vòng xuống tới xã Giồng Kiến. Còn một nhánh nữa thì xắn vào ngay giữa dây đất Chà Đò chạy đụng xuống dây đất nhà chung (nhà Thờ), nhờ đó mà cả mấy trăm mẫu đất mới rửa được phèn chua, giúp cho người nông dân làm ruộng theo mùa, và có chỗ lung, bào, xẻo nhỏ cho cá tôm sanh sôi nẩy nở.
Một thế đất nước lợ, nước mặn, nước ngọt tùy theo mùa nó sẽ là một vùng đất phì nhiêu. Nội một cánh đồng hoang thôi cỏ sẽ mọc lên bạt ngàn, nuôi sống hằng mấy trăm con trâu, con bò mập lúc. Ngày hôm nay đất cát không còn, cá tôm không còn chỗ sanh sôi, nên con người nhiều lúc nằm mơ thấy cá chớ không còn được bắt.
Ngày xưa căn nhà ngói móc của ông bà ngoại tôi lừng lẫy một vùng, có lũy tre xanh bao bọc cò, diệc, còng cọc, le le bay về làm tổ ngủ kín vuông tre. Khi trời mưa giông lớn, chim con rớt xuống xách giỏ ra lượm một chút đem vô nhổ lông quai chảo ăn không hết. Còn con rạch Cái Muồng sau nhà nó rộng thênh thang. Hồi đó sức thanh niên người nào cầm cục đất, mà chọi rớt qua tới bờ bên kia thì giỏi lắm. Ghe chài, ghe chở cát, chở đá chạy vào neo đậu để san lấp con lộ đá chạy xuống tới huyện Bình Đại ầm ầm. Thế mà từ ngày Cống Đập Ba Lai hàn bít dòng sông, con rạch Cái Muồng bị đất bồi mỗi ngày nhỏ lại.

Cho đến hôm nay, năm 2018 tôi về nhìn lại con rạch Cái Muồng mà lòng nghe niềm đau quặn thắt. Nếu người có sức mạnh, chỉ cần có một nhánh cây, chống xuống thì có thể nhảy qua. Vì hiện tại nó chỉ còn rộng chừng hơn ba thước, có bắt một cây cầu ván gảy nhịp long đinh, mà ngày xưa ở chính ngay chỗ nầy tôi đã chết hụt mấy lần.
Có rất nhiều kỷ niệm khi tôi đi ra con rạch, chỗ xích lại nhà cô Chính Tam có một cái búng thật sâu. Cha tôi chỉ cần bè hai cái lọp đem lại đó gày xuống, qua ngày hôm sau giở lên đổ ra cũng gần đầy một thúng cá đối, cá chẻm, tôm càng, cá ngát. Bữa nào siêng thì tôi đi bắt còng lửa, hoặc bắt con lư về lấy đường câu bước xuống chiếc xuồng vịt móc mồi giăng câu. Chừng nước ròng bơi xuồng ra thăm, thì gở cũng được mười mấy con cá ngát, cá sửu, cá úc, cá mú…

Ngày hôm nay con rạch Cái Muồng một chiếc ghe chở chừng 100 giạ lúa thì không thể chạy qua. Bởi hai bên bờ rạch người ta trồng cây dừa nước nó mọc lấn ra không còn dòng nước chảy. Thỉnh thoảng có mấy chiếc xuồng họ bơi đi đặt cá bóng dừa, mỗi xuồng như vậy họ chở chừng 100 cái chà di. Họ bỏ mồi vô rồi ghim xuống trong kẹt lá, đợi khi nước lớn cá bóng dừa đánh hơi rồi chung vào trong đó. Một cuộc sống nghèo nàn tăm tối, bữa đói bữa no. Nhưng trên gương mặt của họ vẫn có nụ cười, vì họ đã biết trước số phận của mình chạy đàng trời cũng không khỏi nắng, nên họ hay cười để quên bớt cái nghèo, cái khổ bám theo sau.
Tôi xăn quần lội dọc mé rạch Cái Muồng tính kiếm bắt cua. Tôi lội như vậy gần một buổi mà chẳng thầy hang cua nào cả. Thậm chí tới con nha (ba khía), còng lửa, còng quều, con học trò cũng đều tuyệt chủng. Chỉ có những đám dừa, và những vuông tôm, đang chạy máy quạt để tạo oxy cho tôm thở. Tôi nhìn thấy cảnh đó chỉ biết thở dài, rồi đi trở lại nhà rửa giò nằm trên võng nghe tiếng cu gáy buổi trưa. Như vậy thì người nghèo lấy gì để sống, đất ruộng đâu có để làm, nên họ phải tha hương cầu thực.
Tôi lần tay tính lại, mấy người bạn của tôi một thuở, một thời. Có người thì đi lính lớp chết, lớp bị thương. Còn số người đi theo phía bên kia, bây giờ cũng không còn mấy móng. Một cuộc đổi đời vội vã, một cuộc thay da đổi thịt đau lòng. Trong làng tôi ngày xưa bao nhiêu cánh đồng bưng, từ trên chợ Ngã Tư chạy vòng xuống xóm Giồng Đùi, từ đó chạy vòng ra bưng lớn. Bây giờ nhà cửa chật kín hết trơn. Hồi nhỏ ngay chỗ mấy con giồng nầy, có đám keo gai buổi trưa tôi đi bắn chim, bắn cu đất đem về xào ăn không hết. Những ổ chim dòng dọc đóng trên những nhánh cây, khi có cơn gió cơn giông, nó đong đưa như nhịp võng.
Qua ngày hôm sau tôi nhờ thằng cháu chở Honda chạy ra con đê lộ mới. Bắt đầu từ đầu vàm rạch Cái Muồng chạy xuống tới con rạch Giồng Kiến, để quan sát tình hình. Ở nơi đây ngày nay là một vùng đất trồng dừa ta, người nào có được chừng vài mẫu đất thì kể như khá giả. Còn người nào không có, thì họ cất một cái nhà nhỏ rồi buôn bán qua ngày. Tôi nhìn thấy mấy xâu bánh lá dừa treo bán tòn teng, bên cạnh đó là mấy nải chuối xiêm chín rụt, và vài đòn bánh tét nhưn chuối để bán cho khách lỡ đường. Đó là hình ảnh của nông thôn, mà tôi đã chứng kiến trong một ngày buồn, mặc dầu hôm nay đất nước đã đổi thay, nhưng số phận của người dân cũng vẫn còn nghèo đói.

Dọc hai bên đường đi, phần đông là nhà lá nghèo nàn, hoặc chòi lá giữ ao tôm, nên người dân lam lủ. Thỉnh thoảng cũng có vài đứa con nít chăn bò, với bộ vó khẳng khiu, đang lùa mấy con bò nhơi cỏ. Còn người lớn lại óm nhom, dường như đã mang nhiều thứ bịnh trong người mà chưa uống thuốc. Tôi biểu thằng cháu chạy thẳng ra bờ sông, chỗ bến Đò Ngang từ nơi vàm Giồng Kiến chạy qua xã Tân Xuân để nhìn đất nhìn trời. Ngày xưa cũng tại chỗ nầy tôi xém chết hụt mấy lần. Một lần sau khi hạ cây vá xuống chưa kịp trải ngọn thì bị ổ ong Lổ từ dưới đất xông lên, thứ ong nầy nó đánh trâu cổ còn rống chớ nói chi người. Trong phút giây nguy nan đó, tôi nằm nín xuống đất mà không động đậy. Chừng mười phút sau bầy ong Lổ rút lần xuống lỗ, thoát nạn tôi bò xuống sông rồi bè lại chiếc xuồng, về nói lại với cha tôi. Ông vuốt đầu tôi rồi nói: Giỏi…
Chưa hết sau đó tôi cùng cha tôi đi đốn củi bần chở về để dành dự trữ mùa mưa. Có lẽ vì tham nên tôi cứ chuyền củi xuống chất hoài, nên chiếc xuồng bị khẫm lừ bơi đi è ạch. Cha tôi biết ý nói: Ngồi im đừng nhúc nhích nghe con…
Chiếc xuồng vẫn lầm lũi trôi đi theo dòng nước. Tôi ngồi trước mũi cại, quát cầm chừng, thì bất ngờ có cơn gió chướng thổi rát mặt sông. Cha tôi vừa cại chiếc xuồng cho nó tấp vô đám bần, thì một cơn gió và sóng lớn bất ngờ ập tới. Không kịp đề phòng, chiếc xuồng chìm xuống mất tăm. Vì chở củi khẩm nên không có cách gì cứu vãn. Lần đó tôi uống vừa đầy một bụng nước, thì được cha tôi nắm đầu kéo lên. Sau đó ông lặn xuống kéo mũi xuồng trườn lên đám bần, rồi bợ từng khúc củi bần quăng xuống sông bỏ bớt.

Một cuộc sống lầm than như vậy, nó là một chuỗi của cuộc đời. Rồi tôi lớn dần theo với tháng năm, sau những ngày đi học thì tôi xách cuốc, giỏ, móc đi bắt cua đào chuột. Có lần tới mùa cua lột, từ sáng sớm tôi ăn một tô cơm nếp, rồi bắt đầu đi bắt cua lột theo sở đất Chà Đò. Tới trưa thì tôi bắt đầy một giỏ, chừng đói bụng nuỗng mới chịu đi về. Hồi đi bắt thì hăm hở bao nhiêu, khi về mang một giỏ cua nó nặng còn hơn đeo gong trước ngực.
Khi về tới ngay dây đất ông Sáu Khâm, ngay chỗ nầy nếu nước ròng lòi bãi thì lội qua cũng dễ thôi. Nhưng bữa đó nước lớn gần đầy con rạch, nhìn tới nhìn lui không thấy chiếc xuồng nào để quá giang. Tôi làm liều lội xuống, vai vác cây cuốc, còn tay trái thì cầm đáy giỏ đưa lên, chỉ lội đứng với tay phải bơi xoắn theo dòng nước.
Bình thường con rạch Cái Muồng tôi lội qua lội lại có khó gì, thế mà ngày hôm đó dường như nó lớn rộng thêm ra, một phần tiếc giỏ cua lột không dám buông, nên cứ nín thở mà lội cho tới khi gần tới mé. Lúc đó thì tôi đã uống hết mấy hớp nước rồi, biết tình thế không xong, nên ngiêng vai thả cây cuốc xuống định bụng ngày mai đi lại vớt. Tay trái tôi chòm tới, định níu bập dừa nước để trườn lên. Nhưng chụp hụt, cả người chới với. Thế là buông luôn giỏ cua lột, miệng thì uống nước muốn sặc mũi tới nơi. May sao lúc đó tôi còn biết lặn xuống rồi níu đại một bập dừa nước rồi kéo vô bờ nằm thở.
Một cuộc chết hụt âm thầm, nếu có chết cũng chẳng ai hay. Vì cả nhà tôi, chòm xóm tôi không có ai ngờ rằng, một đứa con trai lội giỏi như tôi, mà lại đi uống nước chết chìm trong lãng nhách.

Có những ngày rỗi rảnh, cha tôi xích ba con chó săn ra ngoài mấy cụm gò đất ông Ba Lầu, tìm dấu chồn nó vừa mới ăn đêm, rồi giăng lưới làm khoé xong xích chó xông vào. Còn cái đám con nít của tụi tôi, thì tay cầm một khúc cây dài chừng 2 mét đập vào bụi rậm. Cha tôi và mấy người khác, thì đứng cặp mé đăng, tay hườm mũi chỉa, đợi mấy con chồn Cáo Cộc bị bầy chó rượt nà. Đụng tấm lưới vội tháo trở ra, lúc đó thì những mũi chỉa nhà nghề bắt đầu phóng ra tới tấp.
Tiếng khọt khẹt của chồn, tiếng chó sủa dồn dập vang lên, tạo thành một không khí tuổi thơ vui sướng.
Nằm trên võng đong đưa khi ngọn gió chướng thổi về, làm cho tôi chạnh nhớ tới tuổi thơ. Những buổi trưa như vầy, tôi thường hay bắt rận mấy con trâu, nhứt là con Pháo mà tôi tưng tiu hết mực. Bởi nó vừa là con trâu cầm bầy, vừa cày giỏi đi thá để gánh ách con kia, nên tôi hay o bế cặp sừng chuốc bằng miễng chai thật bén. Để phòng khi lùa đi giành đồng chém lộn chẳng sợ thua, có lẽ nhờ tuổi thơ dang nắng dầm mưa như vậy nên khi lớn lên ra đời ở đâu tôi sống cũng được.

Những ngày quây quần bên gia đình đã hết, tôi lại xách va-ly lên đường về xứ Úc Châu. Một sự ra đi đau đớn âm thầm, nhưng tôi cũng đành gạt lệ. Ngoài những bộ áo quần ra, tôi còn mang theo trong tâm khảm những con cá lóc, cá kèo nò, tép đất luộc phơi khô, cua cái gạch điều vảnh mu bò đi không nổi.
Những cảnh xưa nay không còn, cho dù tôi có đi tìm kiếm khắp cả quê hương, nên chân của tôi bước ra xe, mà cứ quay đầu ngó lại. Một con rạch Cái Muồng, con rạch của tuổi thơ, mà tôi biết chắc rằng sẽ theo tôi cho tới ngày nhắm mắt./-

Sydney 1/5/2018
Phùng Nhân

Be the first to comment

Leave a Reply