Kiểm toán Nguyễn Chí Thanh

Tuần qua đảng và nhà nước đã rầm rộ tổ chức lễ tưởng niệm 50 năm ngày mất của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (NCT), ngày 6 tháng Bảy năm 1967.

Đúng ngày đó (thứ Năm tuần qua), Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương, đã đến thắp hương tại Nhà tưởng niệm NCT theo bản tin trên Vietnamnet:

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thắp hương trước anh linh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh…  Thành kính tưởng nhớ người chiến sỹ cách mạng kiên trung, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà chính trị – quân sự lỗi lạc của Đảng, quân đội, người con ưu tú của dân tộc Việt Nam.” Hơn 30 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã nêu gương sáng về tinh thần cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, … Đặc biệt, Đại tướng NCT luôn kiên quyết, kiên trì chống chủ nghĩa cá nhân, chống tham ô, lãng phí, luôn gương mẫu, đi đầu trong thực hành đạo đức Hồ Chí Minh.” [1]

 Sự thật thì “nhà chính trị – quân sự lỗi lạc” có đời sống “gương mẫu” này là người như thế nào?

Hãy tạm thời “kiểm toán” ông tướng này bằng những tài liệu đã phổ biến, ai cũng có thể tìm đọc dễ dàng.

Cái chết của NCT?

Thông tin chính thức cho biết NCT chết vì “nhồi máu cơ tim” nhưng các tài liệu khác cho biết chính Lê Duẫn đã đầu độc Thanh.

Một trong những người tố giác là Hoàng Văn Hoan (HVH), từng là phó chủ tịch quốc hội, ủy viên Bộ chính trị nhưng năm 1978 trốn sang Trung Quốc xin tỵ nạn. Trong hồi ký “Giọt nước trong biển cả” HVN khẳng định chính Lê Duẩn đã tổ chức việc thanh toán NCT vào năm 1966 khi Thanh từ Trung ương cục miền Nam ra Hà Nội họp.

Trong chương IV, “Cách mạng Việt Nam với sự phản bội của Lê Duẩn”, HVN viết:

“Tôi còn nhớ vụ án chính trị phát hiện trong năm 1967 do một số học sinh và cán bộ học ở Liên Xô về câu kết với nhau thành một nhóm chống Đảng. Khi lộ tẩy rồi bị bắt, nhóm này đã khai ra nhiều người trong đó có Nguyễn Văn Vịnh, trung tướng Quân đội nhân dân, Chủ nhiệm Ủy ban thống nhất của Quốc hội, là một tên tội phạm quan trọng đã bí mật cung cấp tài liệu quân sự và tình báo chính trị cho nước ngoài.

Một vụ án đặc biệt như vậy, thông thường là phải báo cáo đầy đủ với Bộ Chính trị để báo cáo với Trung ương quyết định việc xử lý. Nhưng khi Hồ Chủ tịch đang còn thì Lê Đức Thọ lấy cớ là vụ án đang ở trong giai đoạn điều tra, thỉnh thoảng mới báo cáo với Bộ Chính trị về sự phát triển của vụ án để biết. Sau khi Hồ Chủ tịch mất không lâu, Lê Đức Thọ đề nghị Bộ Chính trị cho lập một ban điều tra gồm ba người là Trần Quốc Hoàn, Nguyễn Lương Bằng là uỷ viên, Lê Đức Thọ là Trưởng ban, nhưng thực tế thì Lê Đức Thọ và Trần Quốc Hoàn nắm, còn Nguyễn Lương Bằng thì chỉ nghe thế nào thì biết thế ấy. Từ đó Lê Đức Thọ không báo cáo với Bộ Chính trị nữa, mà chỉ ở hội nghị Trung ương khi có người hỏi thì mới báo cáo ở hội nghị Trung ương để biết.

Mãi đến năm 1976, trong một cuộc hội nghị Trung ương, Lê Đức Thọ mới đề nghị xin Trung ương quyết định kỷ luật Nguyễn Văn Vịnh là hạ chức trung tướng Quân đội nhân dân xuống cấp thiếu tướng, hạ chức Chủ nhiệm Ủy Ban thống nhất của Quốc hội xuống cấp Thứ trưởng. Cả hội nghị Trung ương đều phản đối, nhất trí quyết định phải khai trừ Đảng tịch, tước hết quân hàm, cách chức Chủ nhiệm Ủy Ban thống nhất của Quốc hội, và giao cho Lê Đức Thọ, Trưởng Ban tổ chức Trung ương Đảng làm thủ tục thi hành.

 Trước hội nghị Trung ương, Lê Đức Thọ không thể không thừa nhận nhiệm vụ thi hành, nhưng lại nói riêng với Nguyễn Văn Vịnh rằng, tuy tuyên bố kỷ luật như vậy, nhưng anh vẫn được tự do, cứ yên tâm chờ đợi một thời gian thì sẽ có cách xóa án.

Thế rồi sau Đại hội lần thứ tư của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương được bầu lại, Lê Duẩn đã nắm chắc về tổ chức, thì trong một cuộc họp Trung ương năm 1977, Lê Đức Thọ mới đề nghị xin Trung ương xét lại vụ án Nguyễn Văn Vịnh và quyết định cho thôi chức Chủ nhiệm Ủy Ban thống nhất của Quốc hội, và chỉ hạ một cấp quân hàm từ trung tướng xuống thiếu tướng. Phải chờ đến khi có Ban Chấp hành Trung ương mới mới giải quyết được vấn đề, là vì theo nguyên tắc tổ chức thì chỉ có Trung ương mới phủ quyết được một nghị quyết đã có hiệu lực của Trung ương.

 Vì sao vụ án phát hiện từ năm 1967 mà để mãi đến mười năm sau là năm 1977 mới giải quyết? Là vì trong vụ anh Nguyễn Chí Thanh bị ám hại, Nguyễn Văn Vịnh là người được biết tất cả mọi chi tiết, nếu xử lý Nguyễn Văn Vịnh đúng theo kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước thì Nguyễn Văn Vịnh sẽ bươi ra hết cả, như vậy bộ mặt của bọn Lê Duẩn sẽ bị bóc trần, tội ác của bọn Lê Duẩn sẽ phơi bày trước Đảng và trước dư luận nhân dân.”

 Ngày cuối cùng của NCT

Đây là hồi ức của cựu Đại tá Nguyễn Thị Bảo, nguyên là Phó Chủ nhiệm Khoa A3 Viện Quân Y 108, ghi lại trong cuốn “Đại tướng NCT – Nhà lãnh đạo lỗi lạc, một danh tướng thời đại Hồ Chí Minh” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,2007, tr.344-347).

“Hồi đó, tôi là bác sĩ thuộc Ban quân y thủ trưởng, phụ trách sức khỏe các gia đình có cán bộ đi B. Trưa ngày 5 tháng 7 năm 1967, tôi đến nhà chị Cúc (vợ anh NCT), thấy chị ngồi ăn cơm một mình, tôi hỏi nhỏ:

– Sao chị không chờ anh về ăn cùng?

– Anh đi ăn cơm khách – chị khẽ trả lời và kéo tôi ngồi xuống ăn cơm cùng. (Từ thời kỳ chống Pháp đến kháng chiến chống Mỹ, gia đình anh chị và chúng tôi gắn bó như anh chị em ruột thịt, gặp bữa cơm nếu chưa ăn là ngồi vào ăn luôn).

 Chị em tôi ăn sắp xong thì anh Thanh ở ngoài bước vào trong bộ lễ phục trắng, quân hàm Đại tướng với dáng đường bệ và vui vẻ. Nhìn thấy tôi, anh khen: “Cô Bảo ở nhà chăm sóc sức khỏe chị và các cháu tốt anh mừng”. Rồi anh ngồi xuống cạnh chị Cúc, anh nói khẽ: “Chiều nay Cúc đi ăn cơm khách với anh nhé!”.

Với nét mặt hơi buồn, chị không trả lời thành tiếng, đầu chị nghiêng nghiêng không ra vẻ gật, cũng không ra vẻ lắc từ chối, đôi mắt chị nhìn anh trìu mến. Tôi thầm đoán là anh lại sắp vào B mà chuyến này đi với bao gian nguy trọng trách nên chị buồn lo. Anh Thanh đứng dậy và nói: “Hai chị em tiếp tục ăn đi, anh lên nhà nghỉ trưa một tí đã”. Tôi nhìn theo bước chân nhanh nhẹn của anh đang đi trên cầu thang mà lòng mừng vui về sức khỏe của anh không hề suy suyển sau chuyến đi B dài vừa qua.

 Anh NCT đi B từ 1964, cuối tháng 6 năm 1967 anh được Trung ương và Bác Hồ triệu tập ra hội nghị để báo cáo tình hình miền Nam và nhận thêm chỉ thị mới. Còn một ngày trước khi lên đường mà bao nhiêu công việc dồn dập: trưa 5.7.1967, ăn cơm chia tay với Bác Hồ, nghe Bác dặn dò thêm; chiều đồng chí Võ Nguyên Giáp mời ăn cơm và trao đổi thêm nhiệm vụ. Sau bữa cơm về nhà muộn, anh còn làm việc với đồng chí Song Hào, Lê Quang Đạo, Phạm Ngọc Mậu, rồi đồng chí Vũ Tuân bên Văn phòng Trung ương sang gặp làm việc thêm.
Khoảng hơn 11 giờ đêm anh mới được nghỉ và bắt đầu nói chuyện với chị Cúc, dặn dò các con trước khi đi xa. Anh Thanh còn nhắn bác Diệp nấu ăn lên dặn: chị chuẩn bị hai cốc cà phê vào lúc 4 giờ sáng (6.7.1967), một cốc cho anh và một cốc cho bác sĩ Thuận đi theo anh vào B.

Gần 1 giờ sáng anh mới đi ngủ. Khoảng 3 giờ sáng anh Chắt bảo vệ đến nhà dưới đánh thức bác sĩ Thuận – người phụ trách sức khỏe riêng của anh Thanh, thấy anh Thanh kêu đau tức ngực và nóng ran trong bụng như có cào xé, bác sĩ Thuận đo huyết áp: 140.80; mạch 80 và khuyên anh nằm yên để mời kíp cấp cứu Viện Quân y 108 đến nhà. Anh bảo bác sĩ Thuận đi gọi điện báo cáo Trung ương tình trạng anh bị ốm bất ngờ. Bác sĩ Thuận đưa anh lên xe ô tô.

Trên xe với tư thế nằm, anh vẫn nói chuyện với anh Chắt bảo vệ và anh Thuận. Xe đến phòng cấp cứu Viện Quân y 108, bác sĩ Thuận đề nghị đưa cáng ra khiêng anh vào giường. Anh Thanh đùa: “Chú Thuận chúa hình thức, quan trọng hóa”, rồi anh ngồi dậy đi thẳng vào buồng cấp cứu.

Ở đó đã có Viện trưởng Nguyễn Thế Khánh và bác sĩ Phạm Tử Dương ra đón ngay. Anh Thanh vừa ngồi xuống giường, rồi nằm xuống, tự nhiên anh phát ra một tiếng “ặc”, mặt và toàn thân tím ngắt. Các bác sĩ xoa bóp ngoài lồng ngực, tiêm các thuốc trợ tim, điều trị cấp cứu tích cực, nhưng không kết quả.

 Thế là các nhà chuyên môn phải chuyển anh lên phòng mổ can thiệp ngoại khoa mổ lồng ngực, kích thích trực tiếp vào tim. Giáo sư Phạm Gia Triệu và bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Toản thực hiện nhiệm vụ này. Ngay sau đó, các đồng chí Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y, đồng chí Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch, giáo sư Tôn Thất Tùng và bao nhiêu chuyên gia tim mạch trong và ngoài quân đội đến đầy đủ để tham dự cấp cứu anh. Nhưng tim anh vẫn chỉ co bóp rời rạc.

Đến 9 giờ sáng ngày 6.7.1967 tim anh ngừng đập và anh đã tắt thở hoàn toàn, với chẩn đoán cuối cùng: nhồi máu cơ tim (gây cơn đau ngực, lan xuống động mạch chủ bụng) gây chết đột ngột (mort subite).”

Qua đoạn trên chúng ta thấy gì?

Nguyễn Thị Bảo là một bác sĩ có chuyên môn cao nên mới được chọn vào đội ngũ “bác sĩ cung đình” dưới danh xưng “Ban quân y thủ trưởng”. Với con mắt chuyên môn của bà, chúng ta có thể tin rằng sức khoẻ của NCT hoàn toàn ổn định vào ngày “định mệnh” đó: “Tôi nhìn theo bước chân nhanh nhẹn của anh đang đi trên cầu thang mà lòng mừng vui về sức khỏe của anh không hề suy suyển sau chuyến đi B dài vừa qua”.

Trong khi đó thì triệu chứng bất ngờ “đau tức ngực và nóng ran trong bụng như có cào xé” của Nguyễn Thị Bảo lại vô tình chứng minh cho lời tố cáo của HVN và nghi ngờ của nhiều người khác. Đang khoẻ mạnh, nhanh nhẹn mà chết bất đắc kỳ tử như vậy, phải chăng NCT đã bị đầu độc một cách tinh vi, với mục đích tạo triệu chứng như một cơn đau tim?

Đó là những nghi vấn về cái chết của NCT, còn vai trò ông ta như một “nhà chính trị – quân sự lỗi lạc”. Việt Nam hiện đang đối phó với sức đe dọa của Trung Quốc. Như một “nhà chính trị – quân sự lỗi lạc” thì ắt NCT phải tiên liệu được chuyện này.

Thực tế thì hoàn toàn không, thậm chí còn trái ngược 180 độ.

Nối giáo cho giặc

Trong hồi ký Đêm Giữa Ban ngày, tác giả Vũ Thư Hiên – con trai ông Vũ Đình Huỳnh, nguyên là Thư ký của Hồ Chí Minh và sau là Vụ trưởng Vụ Lễ Tân Bộ Ngoại Giao – đã đề cập đến sự hiện diện của quân đội Trung Quốc tại Việt Nam vào thập niên 60 và vai trò của NCT:

“…. . Chính Lê Duẩn là người chủ trương mời quân đội Trung Quốc vào miền Bắc Việt Nam để trấn giữ hộ miền Bắc trong khi toàn bộ quân đội miền Bắc được đưa vào chiến trường miền Nam. Chuyện này người ta cố ý lờ đi mỗi khi nói tới Lê Duẩn. Nhưng nếu không phải Lê Duẩn thì ai có thể quyết định một việc trọng đại như thế. Cha tôi cho rằng việc ban lãnh đạo Đảng mời Giải Phóng Quân Trung Quốc vào Việt Nam là sai lầm vô cùng nguy hại. Sai lầm đó đã cho thấy hậu quả của nó trong vụ Trung Quốc xua quân vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam năm 1979 đ “choViệtNam một bài học”, như Đặng Tiểu Bình tuyên bố.

 Nếu lúc đó không có mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Liên Xô để Trung Quốc phải tự chế trong cuộc tấn công xâm lược thì không biết quân Trung Quốc còn đi tới đâu trên đất nước ta. Trong công tác phóng viên tôi đến Khu tự trị Việt Bắc và khu mỏ Hồng Quảng nhiều lần. Trở về tôi kể lại cho cha tôi những gì tôi thấy. Nghe chuyện dân vùng núi Việt Bắc không được phép kiếm củi ngay trong những khu rừng quê hương họ nay đã trở thành khu vực đóng quân của Trung Quốc, chuyện những thợ mỏ muốn đi tắt đến nơi làm việc qua phần đất đã được giao cho Trung Quốc cũng không được, họ bị bộ đội Trung Quốc xua đuổi, ông rơm rớm nước mắt. Ông lo lắng trước tình hình nước nhà bị lệ thuộc.

 Ông tự đi thuyết phục các nhà lãnh đạo, họ đều là các đồng chí cũ của ôngtrong thời kỳ bí mật, kêu gọi họ cảnh giác trước chủ nghĩa bành trướng và bá quyền của nước láng giềng từng đô hộ Việt Nam cả ngàn năm. Họ nghe ông với nụ cười mơ hồ, trịch thượng. Việc nước đã có họ lo, không cần đến ông.

 Ông rất bất bình việc Nguyễn Chí Thanh, người nắm thực quyền trong quân đội hồi ấy, đã đặt Cục Đồ Bản của Trung Quốc in bản đồ 1/1000, là thứ bản đồ dùng cho pháo binh. “Đó là bí mật quốc gia, không một nước nào tự nguyện trao cho nước khác. Sao nó ngu thế! Sao nó bậy thế!”, ông bực bội kêu lên.

(Đêm Giữa Ban Ngày, trang 253,254)

 Với cải cách ruộng đất

Cũng tuần qua, báo chí lại đăng những tài liệu cho thấy NCT từng phản đối cải cách ruộng đất.

Thí dụ báo Tiền phong (4/7/2017) với bài “Nối thêm chuyện Đại tướng NCT” của Xuân Ba, trong đó trích một đoạn trong cuốn sách mới xuất bản “Đại tướng NCT, NXB Quân Đội Nhân Dân, 2017” với “Kỳ I: Trong cơn lốc cải cách ruộng đất”.

Bài này trích lại hồi ức của cố thiếu tướng Đặng Văn Duy, nguyên là thư ký của NCT:

“Hồi cải cách ruộng đất, Tổng cục Chính trị và anh Thanh nhận được nhiều thư, công văn của nhiều nơi yêu cầu đưa một số cán bộ trong quân đội về địa phương để xem xét và xử lý, số ấy tính ra không dưới 300 người, hầu hết là cán bộ. Có đồng chí là cán bộ cao cấp ở cơ quan Bộ Quốc phòng hoặc trực thuộc.

  Mỗi lần nhận được thư hoặc công văn thuộc loại đó, anh đều trực tiếp đọc, suy nghĩ và cất riêng vào một chỗ. Anh dặn tôi: “Chuyện này hệ trọng lắm, tuyệt mật. Chú không được nói với bất kỳ ai”. Và anh cho biết, số anh em này nhiều người xuất thân từ thành phần lớp trên, nhưng đều là cán bộ có học, tham gia cách mạng, tham gia quân đội đã lâu, có nhiều đồng chí đã lập được nhiều thành tích xuất sắc trong chiến đấu hoặc có nhiều năm hoạt động cách mạng ở địa phương. Tôi thấy nhiều lần anh Thanh trực tiếp làm việc với các đồng chí Cục trưởng Cục tổ chức và Cục Bảo vệ quân đội.

 Không khí dạo đó rất căng thẳng trong quan hệ giữa quân đội với các cơ quan phụ trách cải cách ruộng đất ở các địa phương.

Anh Thanh suy nghĩ rất nhiều, làm sao bảo vệ cho được lẽ phải. Mà bảo vệ được lẽ phải tức là bảo vệ được anh em cán bộ thuộc diện này.

 Tiếp đó anh Thanh được Bác Hồ và Bộ Chính trị cử vào Khu Bốn trực tiếp nghiên cứu đánh giá tình hình đặc biệt tập trung vào hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đang tiến hành chỉnh đốn tổ chức trong cải cách ruộng đất. [. . ]

 Ra Hà Nội, anh sang báo cáo ngay trước là với Bác Hồ và sau là Bộ Chính trị. Từ tình hình thực tế ở hai địa phương nóng nhất nước về cải cách ruộng đất cộng với thực trạng ở các địa phương khác nữa, Bộ Chính trị và Trung ương đã đánh giá tình hình, tổ chức hội nghị đề ra phương cách sửa sai trong cải cách ruộng đất. Nhờ vậy mà một số cán bộ quân đội mà anh Thanh từng nhận được đơn thư hoặc yêu cầu của Ủy ban Cải cách ruộng đất đều được yên ổn, không ai phải đưa về địa phương để xem xét gì khác nữa.”

 Trong bài báo Xuân Ba còn kể lại “thâm tình” của NCT với những nghệ sĩ bị đày đọa như con thú là Hoàng Cầm và Trần Dần, toàn những chuyện chẳng ai kiểm chứng được.

Thế nhưng các tài liệu khác cho thấy một NCT khác hẳn!

 Mang cải cách ruộng đất vào Nam

Trong bài “Tính cách Nam bộ” in trong cuốn Dâu bể 10 năm (NXB TPHCM 200, trang 113.124), nhà nghiên cứu Hán Nôm Cao Tự Thanh viết:

Năm 1966 lúc Mỹ mới đổ quân vào miền Nam, Đại tướng NCT lúc ấy là Bí thư Trung ương Cục Miền Nam đặt vấn đề cải cách ruộng đất, triệu tập nhiều cán bộ lãnh đạo ở Nam Bộ về họp bàn. Trong cuộc họp Bí thư Thành ủy Sài Gòn Trần Bạch Đằng nhất định không tán thành với lý do là ảnh hưởng bất lợi tới tầng lớp trung nông đang là chỗ dựa quan trọng của cách mạng, tranh cãi kịch liệt. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh rời chỗ ngồi tới đứng chống tay vào cái bàn của chú Tư (Trần Bạch Đằng) đang ngồi để tranh luận, lát sau nổi nóng hất tay đổ luôn cái bàn, bỏ về chỗ ngồi. Chú Tư cũng đứng phắt lên đi theo tới bàn Đại tướng NCT ngồi, cũng chống tay lên cãi rồi hất đổ luôn cái bàn, trở chỗ mình. Trung ương Cục thấy ý kiến không thống nhất, bèn điện ra bắc thỉnh thị. Sau đó Chủ tịch Hồ Chí Minh gởi điện vào, đại ý “Bác và Bộ chính trị nghe các chú định tiến hành cải cách ruộng đất thấy rất lo ngại, đề nghị các chú bàn kỹ lại và báo cáo”. Đại tướng NCT liền cho sao nguyên văn bức điện gởi chú Trần Bạch Đằng, bỏ luôn ý định ấy.

Tôi nghi chuyên này từ lâu nhưng vẫn nửa tin nửa ngờ, mãi đến khoảng 1988 nhân một dịp gạo chú Tư mới hỏi lại. Chú Tư nhận có và cười nói: “Ổng xô cái bàn của tao thì tao xô lại cho huề. Nhưng đến khi ông sao bức điện gởi tao thì tao phục lắm”.”

Như vậy thì lập trường của NCT với cải cách ruộng đất là như thế nào? Từng ghê sợ và thấy rõ tác hại của nó trong giai đoạn 1955 – 1956 mà năm 1966 còn muốn trổ tài ở miền Nam?

Nhà lãnh đạo gương mẫu:

Năm 2007 trong cuộc phỏng vấn trên báo Thanh Niên nhân dịp dựng tượng cho NCT tại Quảng Trị, bà Nguyễn Thanh Hà trưởng nữ của NC -nguyên là Phó Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam – đã cố gắng diễn tả cha mình như là người chí công vô tư, chỉ biết có lập trường.

Trong bài báo “Con gái Đại tướng NCT: Tôi rất tự hào về cha!” đăng trên báo Thanh Niên ngày 15.10.2004, hai ký giả Thiên Long và Mạnh Dương đã trích lời bà Nguyễn Thanh Hà:

Cha tôi là người rất tiết kiệm, thương con nhưng cũng rất nghiêm khắc với con cái. Tôi nhớ có lần một anh bộ đội ở gần nhà trêu tôi là “con gái đại tướng gì mà mặc quần áo không đẹp mà còn bị rách nữa”, thế là tôi về nhà mách với cha và đòi may quần áo mới, cha tôi chỉ nói một câu: “Con đại tướng khác với con nông dân thế nào? Bố cũng xuất thân từ nông dân đấy chứ. Đất nước mình còn nghèo, phải tiết kiệm con ạ!”. Một lần khác khi thấy tôi đang trên đường đi học về nhà, ông dừng xe lại và nói: “Đi nhanh về nhà ăn cơm”, rồi đóng cửa xe lại rồi đi thẳng mà không cho tôi lên xe mặc dù đường về nhà còn rất xa. Khi tôi hỏi tại sao bố không chở con về nhà thì ông trả lời: “Đây là xe công vụ chứ không phải xe chở con đi học”. Ông luôn dạy chúng tôi là phải trung thực. Trung thực với mọi người và với chính bản thân mình. Đã không làm thì thôi nhưng khi đã làm thì phải nhiệt tình, làm phải quyết liệt mới mong có thành công.”

Nếu chuyện này có thực thì kể ra cũng khá buồn cười và tội nghiệp cho một kẻ “giữ vững lập trường” không đúng chỗ như NCT.

Tuy nhiên sau đó bà Hà đã mâu thuẫn với chính mình trong cuộc phỏng vấn của Hồng Thanh Quang, đăng trên báo Công An Nhân Dân ngày 8.1.2011 với nhan đề “Trưởng nữ của Đại tướng NCT: Một nửa của ba một nửa của mẹ”, trong có đoạn:

Hồng Thanh Quang: Xin phép được hỏi, gia đình chị chỉ có một người con út là con trai. Chắc là Đại tướng đã rất vui khi sinh được “một trai con thứ rốt lòng”?

 Nguyễn Thanh Hà: Vui chứ, sau ba cô con gái mới có một cậu con trai… Vậy nên chìu lắm, tới tuổi học lớp một rồi vẫn không cho tới trường mà luôn mang đi theo mình, tự mình dạy con trai học…

Ở trên chúng ta thấy NCT nguyên tắc như gỗ đá: đảng cấp xe để ba đi công tác, không cấp để ba chở con đi học. Nhưng cũng qua miệng cô ta thì NCT này khác hẳn: đi đâu cũng mang cậu út Vịnh theo để dạy học. Để làm như vậy ông ta không chỉ xâm phạm vào nguyên tắc “dùng xe công vụ để chở con đi học” mà hơn thế nữa là dùng thì giờ và cơ quan nhà nước để dùng vào việc dạy con.

Xài sang như tư bản

Trong cuốn Đèn Cù, Chương 20, tác giả Trần Đĩnh – người được phân công viết tiểu sử Hồ Chí Minh – đã dành một đoạn cho lối sống “đạm bạc” của NCT cũng như quan hệ giữa ông ta với các văn nghệ sĩ có đầu óc cởi mở:

Những ngày tháng ấy nổi bật lên trên mặt trận tư tuởng là Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu. Thanh có một bài nói làm cán bộ quá ư xôn xao. Vì tầm chửi rủa cay độc, phũ phàng và rải thảm của nó.

Chính Yên đã đưa tôi đến nhà Nguyễn Khắc Tiếp đọc bài báo nảy lửa này.

Một ấn tượng bao trùm: kinh sợ! Sao có thể thù ghét những cái vui nho nhỏ của kẻ khác đến thế? Sao tự cho mình có quyền vọc tay vào đời người khác như thế? Sao cho phép mình làm phán quan lập trường, đạo đức để ngạo mạn lên án người khác như thế?

Bài nói rất dài. Chính Yên đọc hơn một tiếng. Chiếc mùi – soa cô con gái thôn quê mua làm nơ buộc tóc cũng bị rủa là “học đòi tiểu tư sản,” văn công lên diễn sao cứ phải phấn son? Trừ phi diễn cho nước ngoài thôi chứ còn thì cứ là diễn mộc, mặt thế nào thì lên sân khấu cứ để nguyên thế ấy! Bà tướng, vợ Phạm Kiệt cũng bị chửi là “đỏm dáng như khỉ.”

Nhà Tiếp ở cách hàng vàng giả Mỹ Ký xưa kia chút ít. Ở Tiếp về sau đó, tôi bảo Chính Yên: –Cụ Hồ đã yêu cầu thu hồi bài nói.

[. . ]

Giữa năm 1963, NCT có bài đăng trang nhất báo Nhân Dân kêu gọi tiết kiệm lương thực. Hợp tác xã cha chung không ai khóc, năng suất thấp, thóc gạo thiếu, biện pháp duy nhất thích hợp là bóp miệng lại, Thanh nay liệt bún vào bảng xa xỉ phẩm. Viết hẳn: Tại sao phải ăn bún?

Lúc Tố Hữu mở bữa thịt chó khao in tiểu sử Cụ, chưa hợp tác hóa nông nghiệp, bún ê hề, Thanh ca ngợi thiên tài bếp núc dân tộc thể hiện ở tổ hợp bún, thịt chó, mắm tôm. Từ ngày hợp tác hoá nông nghiệp, quản lý hết thóc gạo thịt thà, kể cả chó, thiên tài bếp núc gần như tiêu ma. Một cá nhân bèn dám lớn tiếng truy hỏi dân tộc: “Sao phải ăn bún?” và nổ bộc phá vào nền móng thiên tài ẩm thực dân tộc!

Sau phải có chế độ đổi tem gạo lấy bún để duy trì tổ hợp thiên tài.

 Đọc xong bài báo của một cá nhân dám lên tiếng truy hỏi dân tộc: “Sao phải ăn bún?” tự nhiên tôi sang buồng Thợ Rèn, hỏi lại chuyện dạo nào Thợ Rèn theo thư bạn đọc làm một bài “chuyện lớn chuyện nhỏ” phê một xe hơi chở mấy cậu ấm chạy chơi trên bãi biển Sầm Sơn đang buổi tắm đông người. Bài có chú thích hẳn số xe hơi. Đúng hôm báo đăng, hai anh công an đến gặp Thợ Rèn hỏi tại sao anh đả kích cái xe có biển số kia. Rồi cho biết cái xe đó là của anh Thanh. Phải cảnh giác bọn phản động bôi nhọ lãnh tụ. Chúng tôi đem thư về nghiên cứu bút tích tìm kẻ tố cáo.

Tôi thấy NCT lần đầu ở chiến dịch Vĩnh Phúc,1951. Ở mặt trận về Tổng cục Chính trị tiền phương, đến một đầu lũng nhỏ, tôi chợt nghe thấy tiếng thú gầm gừ và tiếng vật lộn. Rẽ vào một tràn ruộng cạn, tôi chậm chân lại: một người quần áo nâu đang vật nhau với một con béc – giê to tướng. Người nằm dưới gạt đầu chó ra nhìn tôi – kẻ phá quấy – rồi lại tiếp tục cuộc đọ tài cao thấp. Tôi nhận ra một khuôn mặt vuông vức, xám đen, dân dã nhưng oai. Vào Cục tuyên huấn, tôi hỏi Tử Phác đang trực ở đó rằng ai ở đây mà Tây thế, vật nhau với béc – giê? Tử Phác thủng thẳng: – Ông tướng nông dân NCT, người vẫn phê bình cán bộ đến cà phê cô Hạ Cao Vân là hoà bình hưởng lạc đấy!

 Năm 1964, tôi đi với hai nhà báo Trung Quốc Luo Lie và Xi Hong Shi vào Vĩnh Linh. Khi trở ra, tôi đến Nguyễn Tuân. Anh hỏi thăm ông chủ nhiệm Nhà giao tế Đồng Hới còn không. Rồi hạ giọng hỏi: – Ông hay gần các ông to, tôi xin hỏi ông là có thật anh Thao (Nguyễn Chí Thanh) thanh đạm như vẫn đồn không? Tôi nói tôi không rõ ông này. Tuân bèn nói: – Lần ấy mình dẫn Pierre Abraham của tờ Nouvelle Critique vào trong đó. Đến Nhà giao tế, nhòm vào tủ rượu, mình thấy hai chai săm – banh Moet & Chandon thì mừng quá bèn khen xừ chủ nhiệm chuẩn bị đến cho cả rượu ngon của Pháp cho khách quý Paris. Xừ chủ nhiệm bèn nói không, đây là dành cho anh Thao, anh Thao ngày nào cũng hai chai. Sáng sau sắp lên đường đi tiếp, xuống nhà ăn thấy hai cái thồi to kê sát vào nhau bày đầy món ăn rất ngon, mình lại nhanh nhảu khen tay chủ nhiệm khéo chuẩn bị cho ông khách quý Paris có cái ăn trong mấy ngày ở Vĩnh Linh. Xừ chủ nhiệm lại nói: Dạ thưa bác, hôm nay gia đình anh Thao lên núi đi săn với thường vụ tỉnh ủy, các cái này là phục vụ các anh ấy đấy ạ!

Kể đến đây, Tuân nhành mồm ra cười đánh khì một cái rồi nghiêng người đặt tay lên đùi gật gù, như tượng “Người suy tư” của Rodin nhưng chán đời.

 Hai năm sau,1966, chuyện cũng dính đến ô tô.

Hôm ấy, Mỹ ném bom Phú Thượng, quãng ngã ba đường Bưởi. Làm việc với anh chị em từ trong Nam ra ở K15 Nghi Tàm, năm giờ chiều Nguyễn Khải và tôi về. Thì ngập vào đám đông bà con lũ lượt chạy về Hà Nội nghẽn hết cả đường. Chợt một Volga đen từ Hà Nội nhích từng vòng bánh lên phía Phú Thượng. Trên xe ba đứa con trai nhảy từ ghế trên xuống ghế dưới. Và NCT lặng ngắm Hồ Tây đỏ tía ánh chiều tà trước khi tới tham quan nơi bị bom Mỹ.

Tôi nói: – Đang Buồn trông cửa biển chiều hôm kìa.”

Lê Trọng Hiệp

[1] http://vietnamnet. vn/vn/thoi-su/chinh-tri/tong-bi-thu-thap-huong-tuong-niem-dai-tuong-nguyen-chi-thanh-382350. html

[2] http://www. tienphong. vn/xa-hoi/noi-them-chuyen-dai-tuong-nguyen-chi-thanh-1163991. tpo

Be the first to comment

Leave a Reply