KỶ NIỆM CÙNG NGUYỄN THỤY LONG

I

Khởi đầu truyện Kiều, Nguyễn Du có hai từ Trăm năm // trăm năm trong cõi người ta. Đây là thời gian vòng rào. Đời người ít ai ra khỏi. Mẹ sinh đỏ hỏn. Nằm xuống, đất ăn hết trọi máu thịt. Chừa lại xương. Nhờ vậy, con cháu sau này muốn cải táng mồ mả ông cố nội, may mà còn cái Để-Mà-Hốt. Hốt cốt.

Vì sao Đất chừa lại xương. Đất chê cứng? Như ta ăn xí quách chỉ gặm phần thịt? Không phải. Đây là Đạo của Trời [thiên đạo] muốn lưu lại cái dấu vết, mà đánh dấu phế hưng, thành hoại – do chính là cái mùi vị, cái màu sắc trần gian trong tháng ngày lưu ngụ ấy – kể cả dấu vết con khủng long hay một bạo chúa.

Kinh Thi cùng có hai từ Bách tuế. Bách tuế quy vu kỳ thất //Trăm năm rồi cũng về nhà. Đi đi về về. Có khác, là mình ra đi kiếp này, kiếp sau cũng là mình, nhưng một-dạngkhác trở về. // Kiếp sau xin chớ làm người / Làm cây thông đứng giữa trời mà reo// Kiếp sau? Tôi, cây thông đứng – Tôi, người lá reo.

Nguyễn Thụy Long qua đời đúng tuổi 71. Vậy là 71 năm trong cõi người ta, lưu lạc trong cái đời vừa cà chớn mà lắm bầm dập, bây giờ Long may mắn Trở Về. Hãy bình yên đi con, Mẹ đây.

*

Chết? chuyện cũng bình thường. Ai cũng lận sẵn trong đời mình một cái chết như cái ví đựng tiền. Như sau một cơn say, trong lơ mơ ta nằm ngủ, rồi ngủ luôn. Nhưng sao mỗi lần nghe tin một người thân quen vội bỏ đi ta ngậm ngùi.

Căn nhà Nguyễn Thụy Long, nơi đang quàn cái “va li gỗ có người ngủ ở trỏng”, mấy mươi năm ủ dột. Mưa có rơi thì rơi… thẳng xuống nền nhà. Mấy tháng nay vợ con có chút tiền sửa sang lại khang trang, tường màu xanh nhạt, trần nhà thoáng rộng, cửa ngõ đẹp ra. Thì Long bỏ đi.

Anh này chừng như kỵ cái nhà cao cửa rộng, không ưa cái sự thảnh thơi giàu có, ghét cái bàn viết có trải cái khăn bàn tươm tất. Thằng chả cực khổ long đong suốt một đời. Sống qua hai chế độ, đều đi tù. Quốc gia bắt khơi khơi, giam gần một năm rồi thả. Xã hội chủ nghĩa bắt giam kỹ lưỡng. Khi bước vào cổng tù với 60 ký lô tay chơn mặt mũi. Ra tù còn 49 ký xương.

II

Tôi quen Nguyễn Thụy Long từ văn phòng báo Sống của Nhà văn Chu Tử, một nhật báo rất nhiều độc giả, thời Đệ Nhị Cộng Hòa [Đệ Nhất là thời Tổng thống Ngô Đình Diệm 1955-1963]. Thời gian sau, báo Sống bị… chết, do thủ tướng Trần văn Hương đóng cửa, Chu Tử tiếp tục chủ trương tuần báo Đời.

Suốt thời gian tuần báo Đời hiện hữu, từ số đầu tới số tắt thở, đều có truyện của tôi và Nguyễn Thụy Long đi song song. Tôi có những truyện dài Luống Cải Vàng, Bến Dòng Nước Biếc, Bến Mưa Ngâu, thì Long có Ruồi Xanh v..v..Văn phong hai chúng tôi hoàn toàn khác nhau. Có lẽ, do chính chỗ này mà nhà văn Chu Tử muốn duy trì hai đặc trưng trên báo của mình.

*

Người Bắc, tôi nói bà con di cư 54 [xin lỗi, ví von hơi cờ bạc một chút là Bắc chín nút] hầu hết là những con người của văn hóa, của lịch sự, tế nhị, biết giữ niềm riêng tự trong đáy lòng. Nguyễn Thụy Long thì ruột ngựa, có chi nói huỵch toẹt ra, như chị hàng xóm nam bộ.

Sáng, đến cà phê trước tòa báo, có tiền trong túi là Long khoe ngay, rồi bao ăn uống. Khi Long rỗng túi thì biết ngay: “Mẹ, cạn ráo rồi, Biền đãi tôi nghe, cho mượn thêm mấy chục.”

Có lẽ, từ cái tính tình này mà đời Nguyễn Thụy Long trải qua gai góc gì thì anh viết ngay, kể ra như “nhật ký đời mình”. Cách kể chuyện của Long thật tình, bộc trực, không văn hoa rào đón. Anh như sống qua, viết vội. Không nuôi chất liệu cho nó chín, biến dạng, đến huyền, hư, để có một loại ngôn ngữ ngoài-xác-chữ, đa nghĩa, cấu trúc truyện nhiều tầng.

Nhưng chính từ cái dễ tính trong cách viết, tận dụng nguyên liệu thô này, truyện của Nguyễn Thụy Long có một độ hấp dẫn khác, trực tiếp, ngay cái Bây-giờ.

Văn của Long nóng, thực, keo đặc chất oan trái đời thường. Mà đời thường, giữa cái xứ Rồng biết mần tình, Tiên đẻ trứng, những hoang mơ hoang đàng hoang mị hoang mang đã bàng bạc rắc gieo từ đầu nguồn Sử Việt. Cái xứ này, xã hội này, trải qua bất cứ một thứ chủ nghĩa huyênh hoang tô vẽ nào, đám dân đen cũng chỉ là phận con lừa, kiếp tì nô. Chẳng cần hư cấu, hư ảo, chỉ viết/kể/tả ra thành thật cái thời sự, câu chuyện đời thường, cũng là thừa …cái để đọc.

III

Một chút đời tư. Vợ đầu của Nguyễn Thụy Long là người con gái nuôi của nhà văn Chu Tử. Ông có hai cô gái nuôi, đều dễ nhìn. Người thứ hai là vợ Nhà thơ Phan Nhự Thức, chủ tịch Hội đồng tỉnh Quảng Ngãi.

Sau 1975 hai người này đều mất vợ. Cả hai đều khổ cực và chết thảm. Phan Nhự Thức sau tám năm tù cộng sản trở về được bảo lãnh đi Mỹ, nhưng hồ sơ bị bác bỏ, vì cái giấy ra trại cán bộ ác nhơn để ngày 30-2, trong khi tháng Hai dù năm nhuận cũng chỉ có 29 ngày. Mỹ, cũng nhẫn tâm, cứng nhắc chỗ không đáng, thiếu cảm thông. Mỹ, có thể đào một con đường hầm dài, để cứu một con chó bị nạn, mà đành bỏ lại một con người trên bãi cháy, không lối thoát.

Thức ở lại. Chết vì ung thư cần cổ. Chết mau như quả chín, có mấy ngày đã đầy sâu trong ruột mềm. Sống giữa thành phố đẹp-nhất-tên-người, mà anh chết trong một căn nhà lá, nhà không điện, con trai duy nhất mới bảy tuổi ngu ngơ, bè bạn hùn nhau mua quan tài.

Theo Nguyễn Thụy Long thì người vợ đầu bỏ anh, anh bị lấy nhà, và “Nàng đuổi tớ đi.” Long có người vợ thứ hai, thêm hai cô con gái. Hai đời vợ, chỉ bốn cô con gái. Các cháu này rất ngoan. Nhưng, Long vẫn nói:

“Thế nào ông cũng kiếm cho được một thằng cu. Lấy vài chục mụ vợ để lại một Cái Cu ông cũng tìm.”

Tôi bảo Long:

“Bốn cô con gái là hạnh phúc rồi. Thời buổi này con gái giúp đỡ nuôi nấng cha mẹ, hiếu đạo hơn con trai rất nhiều. Bọn con trai đa phần theo chủ nghĩa ‘tòng …âm hộ’, có khi bỏ quên cha mẹ.”

Người vợ thứ ba của Nguyễn Thụy Long chính là người kham khổ nuôi nấng anh trong những ngày bệnh hoạn cuối đời, là người góa phụ khăn tang đứng rũ bên quan tài Long, lúc chúng tôi mang vòng hoa phúng điếu đến. Cháu gái út, và cậu con trai duy nhất, khăn tang đứng hai bên quan tài cha.

Hình như các cháu chưa hiểu rõ thế nào về cha của mình.

IV

Long với tôi có cái số viết chung cùng một báo, những tạp chí nhật báo đông đảo độc giả, trong một thời gian rất lâu dài. Các tờ, Nghệ Thuật, Khởi Hành, Đời, Dân Chúng, Sống, Sóng Thần, Hòa Bình, Độc Lập, Đông Phương…

Sàigòn xưa [trước 1975 nay là …xưa rồi], có một cái vui là có những con đường nhiều nhà in, các tòa soạn báo nằm gần nhau. Có tòa soạn báo là có quán rượu, quán cà phê. Anh em tạt qua tạt về cũng tiện, rất gần gũi. Thời này tôi thấy rất hiếm anh em làm văn nghệ Miền Nam viết báo chửi bới nhau, trừ những trường hợp trái cựa về chính kiến Quốc-Cộng.

Chỉ một quãng đường Phạm Ngũ Lão [nay là khu Tây Ba lô] trước sau có tòa soạn Văn [Nguyễn Đình Vượng – Trần Phong Giao], tuần báo Nghệ Thuật, Khởi Hành [hai tờ này do Mai Thảo và Viên Linh đứng đầu], nhật báo Hòa Bình [Linh mục Trần Du]. Trên đườngVõ Tánh [nay là Nguyễn Trãi] có nhà in Quế Sơn Võ Tánh chuyên in sách Bùi Giáng, nhiều tòa soạn báo kế cận nhau. Trước kia, chế độ Ngô Đình Diệm, có nhật báo Tự Do, về sau có tòa soạn Độc Lập [chủ nhiệm Đinh văn Phát, Hoàng Châu thư ký tòa soạn], nhật báo Điện Tín [chủ nhiệm Hồng Sơn Đông], nhật báo Đông Phương [chủ nhiệm Vân Sơn Phan Mỹ Trúc, Duy Thái thư ký tòa soạn], nhật báo Sóng Thần [Chu Tử chủ trương, Trùng Dương Nguyễn thị Thái chủ nhiệm.]

*

Làm báo thuở này hàng chóp bu ở trên [chủ nhiệm, thư ký tòa soạn] thì cực nhọc lắm vì nhiều mặt trực diện phải đối phó — chiến sự, lập trường chính trị, chính quyền, cộng sản, áp lực của thị trường báo chí… Hàng ký giả cũng phải chạy đó đây nhặt quơ tin tức, nhiều hiểm nguy khi phải lấy tin chiến trận –Tết Mậu Thân chẳng hạn, chết ngay trong lòng phố. Nhưng làm anh sáng tác tiểu thuyết, phóng sự, bút ký, thì nhàn nhã hơn. Có khi tưởng tượng ra chiến trường. Vẽ ra ma quái để thêm hấp lực với độc giả, trong các phóng sự xã hội.

Sáng ngồi cà phê viết bài. Chừng 11 giờ sáng là hết hạn giao bài. Nhật báo Sàigòn thuở ấy phát hành vào lúc 4 tới 5 giờ chiều, tùy báo. Giờ tan sở cuối ngày là có thể đọc biết tin chính sự, chiến sự 24 giờ qua. Cánh văn nghệ không lo xa. Bài vở xong là lai rai thư thả. Rảnh rỗi, nhưng không hề ngồi viết tiếp bài dự phòng cho mấy ngày kế tiếp. Mai hẳn hay. Báo Đông Phương có ngay bóng bàn tại lầu 1. Hòa Bình, Độc Lập thì anh em tụ trên lầu với canh xì phé.

Nguyễn Thụy Long không ham bài bạc. Thỉnh thoảng vớ nửa tháng lương, ngồi sòng một lúc, là “Mẹ, cho mượn ít tiền, ông cháy túi rồi.” Long không sành âm nhạc. Không biết nhảy đầm. Anh lù đù cục mịch. Ăn mặc đại khái. Nói dùi đục. Lại hay nổi cộc.

Một lần có người bạn cũ – người này thuở kia từng viết chung báo Độc Lập với tôi và Long – viết bài chửi bới Long. Long tức khí viết bài, đăng báo, lên mạng, chửi lại tàn khốc. Chửi không chừa lại một khe hở để về sau có thể hồi tâm. Tôi bảo Long nhịn đi. Tôi khuyên:

“Thời buổi nhiễu nhương, lắm bóng tối, nhiều tin đồn đãi vu cáo bừa bãi, sự hiểu lầm là rất thường xảy ra. Mỗi con người phải đường đầu với bao khó khăn tủi hờn, chưa tìm ra ngỏ ngách để xả trừ ân oán, nên nhạy chuyện chửi bới, một cách xả xú bắp, cũng là lẽ thường Long ạ. Nên im lặng là tốt nhất. Nếu đối thoại nên từ tốn, khiêm nhường. Mình phải khác người ta.”

Long nói:

“Tôi khác, không có Lão Trang như ông. Nó đục mình mình đục lại.”

Tôi nói thật với Long, là trong vụ này Long cũng có cái sai, cái lỗi.

V

Long có nhiều cái cũng làm tôi bất bình. Thậm chí có lúc Long đã thiếu cẩn trọng trong hành xử. Nhưng tự đầu chí cuối tôi vẫn xem những điểm “tạm chơi được”, cái tận tụy với nghề nghiệp ở Long, mà duy trì tình thân lâu dài.

Sống trong một Cõi người mà mỗi bao tử bị xé rách theo từng miếng ăn, mỗi não thùy thường trực bị bắn phá nghìn tên độc tư tưởng; một lịch sử trong dặm dài chinh chiến, phân ly, thảm đát; một xã hội mà hoàn cảnh luôn đóng kín bóng tối của nghi kỵ, hiểu lầm, hờn oan; những chân chính, sự lương thiện bị bôi bùn; những danh vị hào nhoáng, rỗng và thối hoắc, trên cái bóng đổ của áp đặt, thời cơ, lạm quyền; nơi cửa ngõ dễ dãi, lại vừa méo mó, của một lịch sử bị bách hại muôn chiều, liệu con người có còn là Duy nhân ư tối linh.”

Hay chỉ là một hình nhân với nhiều mặt nạ để thay nhau như y phục?

Sống trong một thời đại mà một con người tài năng phải triệt để hạn chế, và tùy cơ ứng biến cách phát ngôn của mình. Chỉ vận dụng nó từ đầu môi chót chót lưỡi đi ra. Không từ não thùy xuống. Chẳng thể từ trái tim, cõi lòng vọng tới. Một cõi người bị bách hại bởi cái áp lực từ bên ngoài và cái hèn yếu từ bên trong, ta có nên hờn oán họ? Ta khinh miệt họ? Phải chăng là ta đã phạm một sai lầm không hiểu lòng người?

Chỉ còn một xử thế khá trung dung. Sống, không thương yêu ai cũng chẳng nên thù oán ai. Không giúp đỡ được ai, thì chẳng nỡ hãm hại ai. Vậy tạm đủ.

VI

Nhàn rỗi, kể thêm câu chuyện này để hiểu thêm tính cách Nguyễn Thụy Long:

Khoảng 1970, trước khi tòa soạn Độc Lập chuyển về đường Võ Tánh, nó nằm ở 54 Thủ Khoa Huân. Đối diện tòa soạn có quán cà phê Hoàng Hoa. Nói là cà phê nhưng có đủ loại rượu xịn, món ăn tây tàu, ca ri ấn độ. Quán chuyên bán ghi nợ. Cuối tháng lĩnh lương thì trả.

Một hôm tôi và Long ngồi trong quán Hoàng Hoa, trời mưa to. Long nhìn ra trước tòa soạn thấy một xế bốn bánh màu đen, nằm dưới mưa trông bóng loáng. Long cảm khái nói:

“Mẹ, trời mưa thế này đi honda chán quá. Tớ mà có được cái xế đen bóng như thế, trèo vô, đóng cửa cái phụp, lái đi. Quý tộc cùng mình.

Tôi nhìn cái xế, rồi nhìn Long tôi nói:

“Xe của tao. Mua bán cho.”

Long ngạc nhiên:

“Hôm trước thấy nó mốc thếch như con chuột chết kia mà.”

Tôi cười bảo:

“Đúng. Nhưng hôm nay nhờ trời dội nước mưa, nó bóng bẩy, đẹp ra. Như con gái ở truồng tắm, có khác chi.”

Long vội vã:

“Bán bao nhiêu?”

“Tao mua của trung tá Vũ Đình Dậu 250 nghìn. Chán rồi. Bây giờ bán hai trăm. Thêm tiền mua xế khác.”

Tưởng đùa. Hóa ra Long vọt ngay lên tòa soạn năn nỉ thư ký tòa soạn Hoàng Châu vay một mớ tiền để ứng trước cho tôi, rồi lấy xe cho bằng được. Chưa có bằng lái xe cũng lái cho bằng được. Tôi chỉ dẫn cách lái chỉ đúng vài tiếng đồng hồ. Chiều hôm, Long bắt vợ con ngồi vào xe. Vợ con run en. Long vi vút ra xa lộ suýt bị xe nhà binh Mỹ ủi chết cả nhà.

VII

Tính cách của Long cũng dễ gần gũi. Không kiêu kỳ. Những năm đói khổ, mỗi lẫn Long ghé nhà, vợ tôi thường nấu mấy củ khoai. Long ăn một củ, nhai cả vỏ khoai. Tôi bảo nhai tiếp vài củ lót dạ để mà còn uống rượu. Long nói để cho tụi nhỏ nó ăn với.

Tôi không hiểu vì sao vào cái thời khốn nạn, sau tháng Tư 1975, uống toàn cái thứ rượu dỏm, quốc lủi, rượu cây lý, ông già chống gậy, rượu pha thuốc trừ sâu, bia lên cơn, cái thứ bia bây giờ nghĩ lại thấy rùng mình, vậy mà bọn tôi không ung thư gan, không toi cái mạng khi bao tử lúc nào cũng rỗng.

Bây giờ nhiều rượu bổ, đủ loại bia ngon, lại có thể lót dạ dăm bông xúc xích, vậy mà nhiều anh em lăn đùng quy tiên, phần lớn là đột quỵ, ung thư cần cổ, gan củ trướng, tiểu đường chuyển qua phá phách tim mạch. Cha chả là buồn… Phan Nhự Thức, Đinh Hoàng Sa,Vương Thanh, Trần Hữu Nghiễm, Nghiêu Đề, Chóe, Tôn Thất Văn, Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Phan Thịnh, A Khuê, Nguyễn Thụy Long… dọc dài những con người tài hoa, thân ái.

Đem chuyện chết sống ra giỡn chơi là thất lễ với đấng sinh thành, vô đạo giữa trời đất. Nhưng nghiêm chỉnh cũng rứa thôi. Cũng chết.

Mỗi ngày, nghe đời rờn rợn. Ngồi trước cái máy gõ gõ ba cái chuyện tầm phào gió chìm mây nổi trong trời đất, cứ nghĩ viết chưa xong, có khi mình chết tốt. Bỏ lại một bầy chữ tội nghiệp, nửa cái truyện dở dang. Viết, chỉ là vui cái vui hoang dại, là lưu lạc trong ngỡ ngàng. Chừng như mình đang ngồi viết đây là Cái Hoang Liêu bước về từ Cõi chết.

Long cũng có tâm cảm như tôi, một thời. Cũng đồng bệnh tiểu đường, cùng khối u, cùng cầm bút đứng ngay mép bờ tử sinh.

VIII

Nguyễn Thụy Long không phải loại nhà văn đọc nhiều. Kiến văn của anh có giới hạn. Mấy mươi năm bạn lữ, ngồi trò chuyện với Long, không cần thiết phải đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Du, không màng tới Tô Đông Pha, Lý Hạ, Mạnh Hạo Nhiên, chẳng luận bàn về triết học, âm nhạc, không phải nhắc tới Marc Chagall, Salvador Dali, Gauguin, hay Van Gogh, Picasso. Nhưng ngồi bên cốc rượu, ly cà phê với Long cũng thú vị, vì Long nhiều kinh nghiệm sống.

Anh từng lăn lóc với du côn du kề. Từng uống kinh nước đen thay nước đun sôi để nguội. Từng bị nhọc nhằn tù tội. Cả gia đình, sau 1975,  đã từng sống trong chòi tranh vách lá, giữa một bãi ve chai hôi thối rác rưởi… Ngay bản thân tôi đã cùng Nguyễn Thụy Long những ngày đói khó mang cái bị lê lếch lề đường với đủ thứ nghề tạm bợ mong bầy con có chén cháo qua ngày. Chúng tôi cũng đã từng xuống tận Cà Mau làm công nhân xây trại nuôi heo. “Công nhân” dành cho các nhà văn ngụy quân ngụy quyền đích thị là anh thân-ái-cu-li.

Ngần ấy thực tế trong đời người nhà văn, đã cưu mang, đã thường trực chịu đựng, tôi nghĩ đã hơn nghìn trang chữ chúng ta đọc trong sách vở. Đời sống ấy, là nghìn lần thiết thực hơn những khổ-đau-trừu-tượng chúng ta từng dán mặt qua trang chữ lý luận triết học, tuy thâm sâu hoằng viễn, hay những khung tiểu thuyết rực rỡ sắc màu.

IX

Ba năm trước một nhà văn thân thiết từ nước ngoài về thăm, chúng tôi cùng ngồi ở quán Phú Chiêm, đường Trần Bình Trọng, quận Bình Thạnh, một quán rất đông khách vì các món đặc sản Quảng Nam. Hôm ấy chúng tôi uống cũng quá nhiều. Nhưng lúc chia tay, Long bảo mình muốn về nhà Biền. Tôi bảo, về nhà sẵn rượu, nốc thêm nữa có mà toi.

Nào ngờ lần ấy là lần cuối cùng Long đến thăm nhà tôi.

Uống dữ. Chiều tối, thay vì chở Long về nhà Long, tôi tưng tưng, phổi phèo nó dữ dội, không cho phép ngưng đưa rượu chảy vào cần cổ. Thế là tôi tức tốc chở Long ngược lại quán Phú Chiêm. Mần tiếp đợt ba.

Hai cái thân bệnh hoạn chứa máu liều. Hai thằng uống miên man, tới hơn mười giờ khuya Long bỗng nhiên ngã một cái rầm xuống đất, nằm bất tỉnh. Cái mặt vừa gầy ốm, vừa đen queo như da con ếch chiên dòn. Anh Trần Hữu Phú chủ quán nói: “Các thầy ông nào cũng già cũng bệnh hoạn mà uống kiểu này thì chôn không kịp. Đất nghĩa địa thời buổi này giá trên mây.” Phú rất tốt bụng, anh chở Long về tận nhà. Tôi ngả xiêu ngả tất hộ tống. Nào ngờ đây là lần cuối hai đứa tôi cụng ly, từ 10 giờ sáng tới hơn 10 giờ đêm.

Sau bữa đó, Long bỏ rượu. Xuống sức cực nhanh. Vậy cái điều “Lũ chúng ta, không có rượu thì toi đời” quả ứng nghiệm chăm phần chăm.

X

Hôm trước Tết này, tôi ghé thăm. Long đã gầy quá đỗi. Nhà nuôi mấy con chó. Chúng đồng ca đón khách vang trời đất. Nhà lại chật chội, mấy con chó dễ thương cứ quanh quẩn dưới chân, quất quít Long. Âm vang đời là những chào đón đầy phiền muộn của những con vật nuôi tình nghĩa. Con người nơi đâu? Con người đã vắng bóng người sau mỗi khung cửa hẹp phận người.

Long yếu hẳn, nói trong cổ họng. Mà Long lại ham nói. Chừng như mong tâm sự với Biền cho xong. Rồi: “Tớ đi đây.”

Một chặp, Long đứng dậy khập khiễng bước đi. Đi tiểu. Nhưng bước không nổi, đành đứng ngay chỗ bậc cửa. Hai cái chân ống sậy, hai cành tay như que khô run run vịn vào thành cửa. Trông như một nhành trúc gầy biết tè.

XI

Rồi bè bạn cũng đã tới lưa thưa. Những vòng hoa có hàng chữ Chia Buồn, Kính Viếng. Quan tài Long mở nắp. Một cây gậy chống nghiêng nắp với thành áo quan. Chắc là Long nằm chờ những cháu gái thân yêu từ nước ngoài trở về nhìn mặt cha lần cuối.

Quan tài màu đỏ. Những hoa văn rực màu vàng. Hai màu đỏ-vàng đã đẩy những phận người lênh đênh trên những bờ vực của hiểm nghèo, khổ đau, tủi nhục, chết chóc trong bao năm.

Thôi, thế là ta thắp nhang. Nói lắp đôi điều tiễn đưa.

Có khóc cũng không cùng.

Cung Tích Biền

Sàigòn 9-2009

Đọc lại, có chỉnh sửa, Calif 9-2018

 

 

Be the first to comment

Leave a Reply