“Liên đoàn Xã Hội Dân sự Việt Nam’’, tại sao không?

Trong bài “Về một liên minh chính trị của người Việt hải ngoại“, Ts Nguyễn Thị Từ Huy đặt một câu hỏi nhức nhói là tại sao người Việt hải ngoại sinh sống trong các nước tự do, dân chủ không bị đàn áp hoặc bất cứ đe dọa nào lại không thành lập được một liên minh chính trị và làm thế nào để thành lập được một “liên minh chính trị mạnh ở hải ngoại hoạt động như ‘Liên minh quốc gia vì dân chủ’ của Miến điện?“. Đúng là người Việt hải ngoại có đầy đủ điều kiện nhưng môi trường xã hội và pháp lý chỉ là một phần phụ mà văn hóa, lịch sử và tâm lý con người mới là chính yếu trong việc thúc đẩy hoặc ngăn cản người Việt hải ngoại phát huy văn hóa tổ chức, đoàn kết và xây dựng sức mạnh tập thể. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta chấp nhận bỏ cuộc. Không phải vì bẩm sinh mà người Việt có văn hóa tổ chức thấp kém hơn người Miến. Nhưng vì hoàn cảnh lịch sử khác nhau nên có thể chúng ta phải chọn một con đường khác nhưng cùng hướng tới chung một đích.

Một hình thức tổ chức khả thi kết nối người Việt hải ngoại là Liên đoàn xã hội dân sự (XHDS). Trong một thập niên qua, phong trào và tổ chức xã hội dân sự phát triển mau chóng ở trong và ngoài nước. Điểm khác biệt với các tổ chức đảng phái chính trị là XHDS không có đảng quy, cương lĩnh và quan trọng nhất là không có mục đích đấu tranh giành quyền bính cai trị quốc gia. Nhưng không có nghĩa là XHDS không có mục tiêu chính trị. Thật ra, tuyệt đại đa số các tổ chức XHDS đều chia sẻ mục tiêu tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ gồm có các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và giáo dục. Một liên chính trị không nhất thiết phải là liên minh của các tổ chức, đảng phái chính trị.

Lượt qua danh sách XHDS trong cộng đồng người Việt hải ngoại thì có ít nhất hàng chục tổ chức chẳng hạn như VOICE, BPSOS, Lao động Việt, Mạng Lưới Nhân Quyền, Nhóm Công Lý cho Nạn nhân Formosa, Project 88 Vietnam, Phong Trào Giới Trẻ vì Nhân Quyền, Tổ Chức Yểm Trợ Nhân Quyền, Hội Luật Gia Việt Úc…và một số đoàn thể khác. Mục tiêu của các tổ chức này gồm có yểm trợ tranh đấu cho nhân quyền và tù nhân lương tâm tại Việt Nam, tự do tôn giáo, quyền lao động, bảo vệ môi trường và các hoạt động xã hội dân sự. Đây mà những mục tiêu mang tính chính trị liên quan tới đời sống hàng ngày của người dân. Đã đến lúc các tổ chức XHDS nối kết để tạo sức mạnh tổng hợp và có tiếng nói trên trường quốc tế.

Mô hình nào cho Liên đoàn XHDS?

Có hai mô hình liên đoàn thích hợp là Tổ chức Hiệp Hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc châu. ASEAN được thành lập vào ngày 8/8/1967 khi ngoại trưởng 5 nước thành viên sáng lập gồm có Nam Dương, Mã Lai, Singapore, Phi Luật Tân và Thái Lan đồng ký vào Bản Tuyên bố ASEAN tại Bangkok. Mục đích chính thức là đẩy mạnh sự hợp tác kinh tế và xã hội trong khu vực nhưng thực chất là để ngăn cản chủ nghĩa cộng sản lan truyền tại Đông Nam Á trong bối cảnh của cuộc chiến tranh Việt Nam. ASEAN thay đổi theo hoàn cảnh khi chiến tranh lạnh chấm dứt cùng với sự sụp đổ của khối cộng sản tại Đông Âu. Brunei gia nhập vào tổ chức này trong năm 1984. Việt Nam gia nhập trong năm 1995. Tiếp theo là Lào và Miến Điện vào năm 1997. Khi Cam Bốt gia nhập vào năm 1999 thì giấc mơ ASEAN như một cộng đồng khu vực thống nhất với những thành viên quốc gia chia sẻ cùng các yếu tố địa lý, an ninh, kinh tế, văn hóa bắt đầu trở thành hiện thực.

Từ khi thành lập, ASEAN đã dựng ra được một vài cơ chế quan trọng lấy ASEAN làm trọng tâm chẳng hạn như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ASEAN Regional Forum) vào năm 1994 với mục đích là tạo điều kiện cho các quốc gia thành viên ASEAN cùng với các siêu cường quốc như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Nhật, Ấn Độ, Hàn Quốc, Úc có điều kiện thường xuyên trao đổi và hợp tác chính trị và an ninh trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Hội nghị cấp cao Đông Á (East Asia Summit) ra đời vào năm 2005 quy tụ nguyên thủ 10 quốc gia thành viên ASEAN cùng với các nước siêu cường gồm có Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Tân Tây Lan, Nga và Hoa Kỳ gặp mặt đối thoại thường niên về các vấn đề chiến lược, an ninh và kinh tế trong khu vực.

Hiến chương ASEAN bắt đầu được thảo luận từ năm 2015 tại Mã lai được thông qua tại Hội Nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 13 tại Phi Luật Tân vào năm 2007 và chính thức có hiệu lực từ tháng 12 năm 2008 sau khi tất cả 10 thành viên hoàn tất phê chuẩn. Hiến Chương ASEAN ghi nhận một vài nguyên tắc căn bản là các nước thành viên sẽ giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Thứ hai là nguyên tắc đồng thuận. Có nghĩa là mọi quyết định của tổ chức ASEAN phải được sự đồng thuận của tất cả 10 thành viên. Các quốc gia thành viên nắm vai chủ tịch luân phiên mỗi năm. Chức vụ chủ tịch ASEAN năm nay do Singapore đảm nhiệm.

Ngoài ra, một Tổng Thư ký sẽ được luân phiên chỉ định bởi các quốc gia thành viên với nhiệm kỳ 5 năm. Ông Lê Lương Minh – một nhà ngoại giao Việt Nam vừa mới chấm dứt nhiệm kỳ Tổng Thư Ký vào cuối năm ngoái. Tổng Thư ký nhiệm kỳ 2018 – 2023 là Lim Jock Hoi, cũng là một nhà ngoại giao Brunei vừa nhậm chức. Văn phòng Tổng Thư ký có trụ sở tại Jakarta Nam Dương hiện thuê khoảng 300 nhân viên để tổ chức hơn 1,000 phiên họp hàng năm. Ngân sách do các quốc gia thành viên đóng góp bằng nhau, khoảng 2 triệu Mỹ kim. Tức là 20 triệu Mỹ kim mỗi năm. Đây là một con số rất nhỏ so với Văn phòng Tổng Thư ký Liên Minh Châu Âu có ngân sách 220 tỷ Mỹ kim hàng năm.

Không chỉ với ngân sách hạn hẹp mà nguyên tắc đồng thuận có nghĩa là bất cứ thành viên quốc gia nào cũng có quyền phủ quyết mọi quyết định quan trọng. Trong thời gian qua, Bắc Kinh đã rất khéo léo lợi dụng điểm yếu này để chia rẽ ASEAN qua lá bài Cam Bốt hoặc Lào, đặc biệt là về các vấn đề liên quan tới mưu đồ bành trước độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.

Mô hình thứ hai là theo cơ cấu của Cộng đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu (CĐNVTD Liên Bang UC). Trong ngày Boxing Day 26/12/1977, 11 thành viên đại diện cộng đồng đã về thủ đô Canberra tham dự phiên họp toàn quốc đầu tiên và quyết định thành lập Tổng Hội Người Việt Tự Do Úc Châu mà sau này được đổi tên thành Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu (Ls Lưu Tường Quang ‘’ Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu (VCA): Vai Trò Chủ Yếu và những Đóng Góp từ năm 1977’’). Thành viên của CĐNVTD Liên Bang là Cộng ĐDồng Người Tự Do (CĐNVTD) cấp tiểu bang và lãnh thổ gồm có CĐNVTD/New South Wales, CĐNVTD/Victoria, CĐNVTD/Queensland,  CĐNVTD/South Australia, CĐNVTD/Australian Capital Territoty, CĐNVTD/Norther Territory và CĐNVTD/Wollongong.

CĐNVTD Liên Bang UC được điều hành bởi một Ban Chấp Hành và một Hội Đồng Quản Trị. Thành viên Ban Chấp Hành gồm có 1 chủ tịch, 2 phó chủ tịch (nội vụ và ngoại vụ), 1 tổng thư ký và 1 thủ quỹ. Thành viên Hội Đồng Quản Trị gồm có các vị Chủ tịch Cộng đồng Liên Bang mãn nhiệm và các vị Chủ tịch Cộng đồng cấp tiểu bang và lãnh thổ đương nhiệm. Nhiệm kỳ của Ban Chấp Hành và Hội Đồng Quản Trị là 2 năm. Chỉ có các vị thành viên đương nhiệm hoặc đã mãn nhiệm trong Ban Chấp Hành Liên Bang, Tiểu Bang hay Lãnh thổ mới có quyền ứng cử vào các chức vụ Ban Chấp Hành Cộng Đồng Liên Bang. Chủ tịch Ban Chấp Hành đương nhiệm chỉ được tái cử một lần.

Thành viên Cộng Đồng Liên Bang bỏ phiếu theo cử tri đoàn. Mỗi tiểu bang hoặc lãnh thổ đều có 10 phiếu như nhau gọi là phiếu Đại diện. Tùy theo dân số mỗi nơi, cứ 10,000 dân sẽ được thêm 1 phiếu. Ví dụ như NSW có 100,000 dân thì thêm 10 phiếu (tức tổng cộng 20 phiếu). Nam Úc có 20,000 dân thì sẽ được thêm 2 phiếu (tức tổng cộng 12 phiếu). Tài chánh của CĐNVTD Liên Bang là tiền niêm liễm từ các thành viên Cộng đồng tiểu bang và lãnh thổ. Từ năm 1991 đến nay, Chủ tịch Cộng Đồng Liên Bang là người cư ngụ tại NSW hoặc Victoria là hai tiểu bang có số người Việt cao nhất.

Là cơ cấu đại diện cho người Úc gốc Việt trên toàn quốc, CĐNVTD Liên Bang có tiếng nói trên tầm mức quốc gia và quốc tế. Các thành viên Ban Chấp Hành có đủ tư cách tiếp xúc với Chính Quyền Liên Bang Úc, Bộ Ngoại Giao, dân biểu và nghị sĩ để đào đạt nguyện vọng của cử tri người Úc gốc Việt. Ban Chấp Hành thường xuyên tổ chức các phiên họp qua điện thoại hàng tháng để bảo đảm vấn đề được thảo luận chu đáo và công tác thi hành đồng nhất khắp mọi tiểu bang và lãnh thổ.

Cũng như mọi cơ cấu đại diện khác, mức độ hiệu quả của Cộng Đồng Liên Bang tùy thuộc vào khả năng kết nối với các tổ chức và đoàn thể chia sẻ mục tiêu và công tác tương tự. Nhưng có lẽ khó khăn lớn nhất là về mặt tài chánh. Niên liễm của các tiểu bang và lãnh thổ có mức độ giới hạn. Các thành viên Ban Chấp Hành đều là những thiện nguyện viên làm mọi thứ từ A tới Z. Vừa đưa ra sáng kiến rồi cũng tự thi hành. Mức độ hiệu quả do đó bị giới hạn. Hai điều kiện tài chánh và nhân sự mãi mãi là thước đo mức độ thành công và hiệu quả áp dụng cho mọi tổ chức.

Một Liên đoàn xã hội dân sự Việt Nam với các thành viên khắp nơi trên toàn thế giới một khi được thành lập sẽ có tiếng nói trên trường quốc tế và có đủ tư cách để xin tài trợ với các cơ quan Liên Hiệp Quốc, Liên Âu và chính quyền Hoa Kỳ. Ban Chấp Hành hoặc Hội Đồng Quản Trị chú trọng vào việc đưa ra chính sách. Phải có một Tổng Thư Ký làm việc toàn thời để thi hành các quyết định của Ban Chấp Hành hoặc Hội Đồng Quản Trị tương tự như các tập đoàn công ty xuyên quốc gia.

Một câu hỏi quan trọng là các tổ chức XHDS trong nước có thể gia nhập thành viên Liên Đoàn XHDS hay không? Tùy theo mô hình lựa chọn, một tổ chức liên đoàn kết nối quốc nội và hải ngoại sẽ có tầm vóng đáng kể cũng như là nguồn cảm hứng nâng cao ý thức và trách nhiệm đấu tranh cho quyền lợi chung của dân tộc Việt Nam. Dĩ nhiên là sẽ khó tránh gặp khó khăn vì hoàn cảnh đàn áp khắc nghiệt trong nước. Chưa kể là chế độ có thể gài đặt an ninh, tình báo nhằm đánh phá và lũng đoạn tổ chức.

Thế còn các tổ chức hoặc đảng phái chính trị hải ngoại lập ra tổ chức XHDS ngoại vi để gia nhập Liên Đoàn thì như thế nào? Làm sao Liên Đoàn có thể giữ được tính độc lập, trong sáng và minh bạch là những điều kiện cần thiết gầy dựng lòng tin của quần chúng đã bị xói mòn trong thời gian qua? Những người có vai trò và trách nhiệm lãnh đạo phải tìm giải pháp thích hợp cho những vấn đề này.

Xây dựng tổ chức lúc nào cũng khó, nếu không muốn nói là khó nhất. Nhưng có lẽ cái khó lớn nhất là văn hóa bảo thủ và an phận thủ thường của người Việt. Chính hình thức văn hóa này là đồng minh duy trì chế độ độc tài hiện nay và là nguyên nhân chính duy trì tình trạng chia rẽ trong sinh hoạt đấu tranh của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Ls Nguyễn Văn Thân

 

Be the first to comment

Leave a Reply