Lưu Quang Vũ, thơ và kịch.

Nhà văn Dương Thu Hương trong một cuộc phỏng vấn về tác phẩm Đỉnh Cao Chói Lọi viết về Hồ Chí Minh đã cho biết lý do bà viết tác phẩm này là để tưởng nhớ đến cái chết của cả gia đình Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh. Lý do mà bà xác tín nguyên nhân cái chết tàn khốc này vì kịch tác gia Lưu Quang Vũ đã viết vở kịch Hồn Trương Ba. Da Hàng Thịt với hai nhân vật Nam Tào Bắc Đẩu đụng chạm đến hai tên lãnh tụ hàng đầu của chế độ Cộng Sản Là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ.

Một nhà văn khác, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, một người tranh đấu cho nhân quyền cũng đã tiết lộ về cái chết oan khuất của gia đình Lưu Quang Vũ- Xuân Quỳnh: “Vào ngày mồng Bốn Tết khoảng 6 giờ tối có hai người mặc thường phục tới nhà tôi, họ đều ỡ trạc tuổi 40-45, họ tự giới thiệu tên là Nguyễn Văn Hoàn, người của Tổng Cục 2 và người thứ hai tự giới thiệu là của Cục Tình Báo và không xưng danh tánh. Và họ nhìn ra xe ô tô để ngay sát cửa nhà tôi ý muốn nói họ từ Hà Nội xuống. Tôi có hỏi họ đề nghị cho xem giấy tờ tùy thân thì anh xưng danh là từ Tổng Cục 2 nói là tôi không cần phải xem giấy tờ của họ.

Anh ta hỏi tôi có biết rằng họ đã đổ ra bao nhiêu tiền của và công sức để canh giữ tôi trong những ngày này không? Anh ta hỏi tôi có đi dự đám tang của ông Hoàng Minh Chính không? Anh ta nói tôi không được đi dự đám tang ông Hoàng Minh Chính. Anh ta còn hỏi tôi có biết tai nạn giao thông dẫn đến cái chết của vợ chồng Lưu Quang Vũ hay không? Tôi có trả lời với họ tôi biết vụ đấy và tôi có hỏi như thế là các anh xác nhận Lưu Qunag Vũ, Xuân Quỳnh và đứa con trai bị sát hại? Tôi chờ sự trả lời của họ nhưng họ đã không trả lời câu hỏi của tôi.

Anh ta nói với tôi nếu tôi vẫn đi viếng đám tang ông Hoàng Minh Chính thì tôi sẽ gặp một vụ tai nạn tương tự và anh ta nói với tôi như thế này: “Đối với Lưu Quang Vũ anh chỉ là một kẻ vô danh tiểu tốt. Lưu Quang Vũ nổi tiếng như vậy mà khi chết vì vụ đụng xe cũng chìm đi, còn anh thì người ta chôn là xong”

Và nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ sẵn sàng đối chất. “Cái chết của kịch tác gia Lưu Quang Vũ cùng người vợ là nhà thơ Xuân Quỳnh và người con trai đã âm ỉ dai dẳng trong dư luận giới văn nghệ sĩ và những người quen biết rằng đấy là một cái chết mờ ám bí ẩn. Cho nên khi một người ở Tổng Cục 2 nói như vậy thì trong đầu tôi lóe lên những nghi vấn cũ và tôi có hỏi thẳng các anh xác nhận là gia đình Lưu Quang Vũ bị ám sát phải không? Nhưng người nói câu nói đó không trả lời tôi mà anh ta chỉ khẳng định lại nếu tôi đi Hà Nội viếng đám tang cụ Hoàng Minh Chính sẽ gặp lại một vụ tương tự…”

 

Lưu Quang Vũ là ai mà Tổng Cục 2 của chế độ phải ám sát chết cùng với vợ và con? Có phải nhà cầm quyền Cộng sản sợ kẻ sĩ sẽ châm mồi chống đối bằng những vở kịch chèo đầy tính nghệ thuật nhưng cũng lột trần một xã hội đầy bất công hiện tại. Chế độ Cộng Sản rất sợ những nhà văn nhà thơ có tinh thần độc lập vì họ nghĩ có thể trong một tương lai nào đó sẽ là những mồi lửa để thiêu hủy chế độ.

Lưu Quang Vũ trước tiên là một nhà thơ khá độc đáo của văn học miền Bắc. Trong thời bao cấp và sau chiến tranh, xã hội Việt Nam suy tàn đến cùng cực. Những năm khói lửa liên miên, tất cả sinh lực của đất nước phải ra mặt trận cộng thêm chiến tranh tàn phá khủng khiếp đã tạo thành suy tư của một lớp trẻ nghi ngờ sự chính đáng của một cuộc nội chiến. Cũng như đời sống quá cơ cực của một xã hội bị kiểm soát nghiêm ngặt, nơi mà những văn nghệ sĩ phải mặc những bộ đồng phục trên cả mọi phương diện kể cả tình cảm cá nhân. Thơ Lưu Quang Vũ phản ánh hiện thực ấy, biểu lộ phong cách tài hoa mà lại chan chứa những cảm xúc. Thơ không những là chất chứa trong lòng mà còn la ønhững phá phách phản ứng trước một thời đại mà những kẻ giả hình đang nhan nhản trong cuộc sống. Ngay cả trong thơ tình, Lưu Quang Vũ cũng ngầm chứa những tư tưởng khác lạ với những người đồng thời. Thơ của yêu thật và sống thật dù có lãng mạn tâm tư. Dù ông được biết nhiều đến từ những vở kịch được quần chúng hâm mộ và tạo ra biết bao nhiêu giai thoại, huyền thoại, nhưng bản chất của ông vẫn là một thi sĩ, dựng kịch hay viết văn đều bằng ngôn ngữ thơ.

Nhà văn Phạm Xuân Nguyên đã nhận định về thơ Lưu Quang Vũ:

“… Lưu Quang Vũ đã đi lính và đã bỏ lính. Tôi không muốn nghĩ đó là một hành động đào ngũ đơn giản. Tôi nghĩ đó là một thái độ phản chiến từ trong tâm thức. Đọc thơ anh thấy khẳng định điều này. Những bài thơ lạc thời cuộc chiến được viết ra để bày tỏ một cách nhìn, một thái độ, biết là không thể đăng báo được nhưng không thể nào không viết ra, chúng tập họp thành một di cảo để khi đưa ra dưới ánh mặt trời phát lộ một điều là Lưu Quang Vũ đã thay đổi nhận thức và tình cảm của mình khi đi qua cuộc chiến. Đất nước nhân dân trở thành cảm hứng lớn của thơ Lưu Quang Vũ thời chiến được anh trình bày dưới cái nhìn thời chiến đầy khắc khoải đau dớn tuyệt vọng và bi quan. Điều quan trọng đáng nói ở đây là anh viết những điều đó ngay khi đang trong cuộc chiến và ở ngay tuổi đời rất trẻ.

Anh gọi những người trẻ nối nhau ra trận là “những đứa trẻ buồn ướt lạnh” Họ đi với tâm trạng “lòng chỉ muốn yêu thương/ mà cứ phải suốt đời căm giận” cho nên “giết xong quân giặc/ chẳng thấy lòng thảnh thơi nhẹ nhõm/ chỉ nỗi buồn trĩu nặng/ dâng lên như đá trên mồ”…

Nhưng ông lại nổi tiếng là một kịch tác gia số một của văn học miền Bắc Việt Nam. Hơn 50 vở kịch đã được viết và dàn dựng chỉ trong khoảng chục năm phải nói là một kỷ lục đáng kể. Vở kịch đầu tiên “Sống Mãi Tuổi 17” và vở kịch cuối cùng “Chim Sâm Cầm Đã Chết” cũng là một điềm báo trước cái chết của hai vợ chồng Lưu Quang Vũ -Xuân Quỳnh. Khởi đi từ cái “sống” và kết cuộc bằng cái “chết”. Một cái chết đầy nghi vấn mà dư luận trong nước đồn đại rất nhiều và có dính dáng đến chính trị…

Nhà thơ Xuân Sách trong “Chân Dung Văn Học” cũng phác họa khuôn mặt thi sĩ và kịch tác gia Lưu Quang Vũ;

“Cũng muốn tin vào Hoa Hồng

Tin vào điều không thể mất

Cả Tôi và cả Chúng Ta

Đứng trong đầm lầy mà hát!

Ông Không Phải Bố Tôi!

Con Chim Sâm Cầm Đã Chết

Ông Không Phải Bố Tôi!

Con Chim Sâm Cầm? Ai giết?”

Những tên tuổi của các vở kịch như “Com Chim Sâm Cầm Đã Chết”, “Ông Không Phải Bố Tôi”, “Tôi và Chúng Ta”, “Tin ở Hoa Hồng”, đã được xử dụng để làm sáng tỏ hơn một tác giả. Nhưng, lại đầy những vấn nạn để dẫn tới một câu hỏi. Ai đã giết con chim sâm cầm? Trực tiếp hơn là ai đã ra lệnh giết cả gia đình Lưu Quang Vũ một cách tàn bạo như vậy. Cũng như câu hỏi tại sao không thể tin tưởng vào Hoa Hồng nghệ thuật, vào những điều không thể mất đi. Và có phải tất cả chúng ta, trong đó có cả Lưu Quang Vũ đã “đứng trong đầm lầy mà hát”?

Theo dư luận của dân chúng lúc đó thì cái chết của cả gia đình Lưu Quang Vũ bắt nguồn từ vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Trong kịch bản, Lưu Quang Vũ móc méo đến Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, hai tên bạo chúa và gian thần đệ nhất hạng qua hai vai trong kịch là Nam Tào và Bắc Đẩu. Cũng như thiên đình là đại diện cho một tầng lớp lãnh đạo đầy lỗi lầm và đưa đất nước tới những bờ vực tiêu vong. Kịch của Lưu Quang Vũ phần đông đều có tính hiện thực, biểu hiện một thời đại đầy phức tạp, nhiều tranh chấp và con người đã vì danh, vì lợi, vì tiền mà làm bất cứ chuyện gì bất kể đến luân lý đạo đức. Nhân vật kịch của Lưu Quang Vũ đã làm người xem liên tưởng đến những nhân vật nắm quyền đương thời và khiến họ chột dạ và để tâm trừ khử ám sát. Thiên đình trong kịch phải chăng là cái triều đại thối nát hiện nay mà Lưu Quang Vũ đã dựng lại trong kịch bằng những nét mỉa mai trào lộng nhưng bi phẫn?

“Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt” với kịch bản hoàn tất năm 1981 và được công diễn lần đầu năm 1984. Sau đó được trình diễn rất nhiều lần ở trong nước và cả ở hải ngoại nữa. Phát xuất từ một truyện cổ nhân gian, Lưu Quang Vũ đã xây dựng thành một vở kịch có chiều sâu và chứa đựng nhiều triết lý nhân bản và phần nào tố cáo những tệ hại của chính thể đương thời. Những nét tiêu cực, trong cả tư tưởng lẫn hiện thực đời sống được phơi bầy một cách có ý thức nghệ thuật. Vì thế, vở kịch nào của ông cũng được đón nhận một cách nồng nhiệt. Và chính vì thế đã gây ra sự ngứa mắt cho đám quyền chức. Chế độ độc tài toàn trị rất sợ những lệch lạc đi sai đường lối chỉ đạo của văn nghệ sĩ. Nhất là những khuôn mặt nổi tiếng với những bộ môn nghệ thuật có sức hấp dẫn cao và lôi kéo được dư luận quần chúng. Bởi vì, họ coi đó là những mồi lửa có thể thiêu rụi cả một chế độ.

Trong vở kịch, nhân vật chính là Trương Ba, một ông già tuổi gần 60, thích trồng tỉa cây cỏ, yêu cái đẹp của cuộc sống, tâm hồn thanh nhã và rất giỏi đánh cờ. Chỉ vì sự sai lầm tắc trách của Nam Tào xóa nhầm tên trong sổ bộ sinh tử nên Trương Ba chết oan. Theo sự cố vấn của ông tiên đánh cờ Đế Thích; Nam Tào, Bắc Đẩu “sửa sai” lỗi lầm bằng cách cho Hồn Trương Ba được nhập vào sống trong xác thân của anh hàng thịt láng giềng mới vừa từ trần. Sự việc ấy đã tạo ra những nghịch cảnh khi hồn và xác của hai người nhập lại làm một. Hồn Trương Ba thì thanh cao, trong sạch trong khi xác thân của anh hàng thịt thì thô lỗ cộc cằn vụng về. Và hậu quả là những tính chất tốt đẹp sẵn có của Trương Ba vì phải lệ thuộc tạm bợ vào thân xác của anh đồ tể nên cũng bị thay đổi đi và mất dần bản tính xưa cũ. Sau mấy tháng trú thân, nhân vật Hồn Trương Ba trở nên xa lạ với chính mình và với bạn bè, với người thân trong gia đình. Tự chán ghét chính mình, Hồn Trương Ba muốn thoát khỏi tình trạng trên.

Trong ngôn ngữ thoại kịch, Lưu Quang Vũ đã đạt đến độ cao nhất của ý tưởng chuyên chở qua những câu đối thoại giữa hồn và xác. Hồn Trương Ba càng lúc càng rơi vào đau khổ tuyệt vọng bởi vì mình không còn là chính mình nữa. Và ý thức được điều đó đã quyết định chống lại bằng cách rời khỏi cái xác thân thô lỗ ấy để không lệ thuộc vào người khác. Xác anh hàng thịt biết những cố gắng ấy là vô ích, đã nhạo báng Hồn Trương Ba, tự hào về sức mạnh đui mù ghê gớm của mình, dồn đuổi Hồn Trương Ba vào thế đuối lý và còn ranh mãnh thương lượng để có một sự thỏa hiệp với cả thủ đoạn ve vãn vì cho rằng sự thế này không thể nào khác.

Hai hình tượng Hồn Trương Ba và Xác hàng thịt mang tính ẩn dụ. Một bên đại diện cho sự thanh cao, trong sạch với thiên lương của ý thức làm người. Một bên thực tế đầy dung tục tầm thường. Cả hai xung đột với nhau và qua những cuộc tranh cãi đối thoại biểu hiện sự xung đột nội tâm của con người.

Những đoạn đối thoại giữa Hồn Trương Ba và các người thân như người vợ, người con dâu, và đứa cháu nội biểu tỏ tình trạng bị từ bỏ khinh ghét của những người thân yêu để đi đến một màn độc thoại để Hồn Trương Ba đi đến một quyết định thách thức và phản kháng quyết liệt đối thoại với tiên cờ Đế Thích để trả lại thân xác cho anh hàng thịt. Đó là chấp nhận sự chết để linh hồn được trong sạch và hóa thân vào các sự vật thân quen tồn tại vĩnh viễn bên cạnh những người thân yêu của mình.

Kịch “Hồn Trương Ba Da Hàng Thịt” hình như có ý định muốn phê phán xã hội và chế độ đương thời với tràn đầy các tiêu cực của nó. Con người hiện hữu càng ngày càng có khuynh hướng duy lợi chạy theo ham muốn vật chất. Lúc nào cũng nói tâm hồn trong sạch là quý nhưng lại chạy theo vật chất. Và chế độ ấy cũng là thiên đình rệu rã của những quyết định phi lý bất công.

Kịch của Lưu Quang Vũ được quần chúng hâm mộ bởi vì nói lên được khát vọng làm người chân chính. Phần đông những vở kịch đều đặt lên những vấn đề tuy có vẻ lý tưởng nhưng nhắc nhở lại một thực tế của đất nước. Nó gợi lên những thúc giục để đấu tranh cho quyền làm người. Những vở kịch xuất hiện trong thời chủ trương đổi mới của Tổng Bí Thư Đảng Nguyễn Văn Linh và những người cầm quyền nên mới có cơ hội xuất hiện và trình diễn. Những kịch bản trình diễn được hâm mộ nhiều nhất như “Ông Vua Hóa Hổ”, truyện cổ tích Từ Đạo Hạnh được dựng thành kịch; “Ngọc Hân Công Chúa”, truyện lịch sử về Nguyễn Huệ- Ngọc Hân cũng được chuyển thể kịch; “Tôi và Chúng Ta” chuyện về một xí nghiệp trong thời đổi mới với sự xung đột giữa bảo thủ và đổi mới; “Điều Không Thể Mất” của những mảnh đời của những người trong thời kỳ sau chiến tranh với những kỷ niệm của quá khứ và những vật vã đời thường của hiện tại…

Trước khi mê đắm với kịch, Lưu Quang Vũ một thời đam mê thi ca. Với thơ, là những mảnh đời của chính mình ghép lại với những kỷ niệm với người thân, với người tình và cả những giây phút cô đơn mà lẽ sống đang mù mịt vào tuyệt lộ. Sống trong thời buổi khó khăn, lúc chiến tranh thì nhiều tàn phá chết chóc nhưng khi ngừng tiếng súng thì đời sống lại cơ cực và khó thở hơn nhiều lúc còn chiến tranh cả về vật chất lẫn tinh thần.

Trong khi chiến tranh, chế độ bắt tất cả mọi người phải cùng chung bài ca xông trận. Không thể có một giai điệu khác, cả nước phải đồng ca. Thế mà, Lưu Quang Vũ phản chiến, ghê tởm nhìn chiến tranh dưới con mắt quan sát riêng mình. Thơ có những đoạn như:

“muốn kết thúc thơ mình

bằng những lời tốt đẹp

nhưng lòng tôi làm sao tươi sáng được

khi máu bầm khắp nơi

dưới bát cơm trên trời, trong cốc nước

đêm qua tôi đã chết

với hàng ngàn mạng người

từ than bụi tôi hiện hình trở lại

mang đau thương đến trọn cuộc đời

tôi sẽ xông vào mọi cuộc vui

mọi buổi lễ uy nghiêm

mọi bài ca lứa đôi

mọi quên lãng mọi nụ cười dễ dãi

để nói về những xác chết cháy đen

để nói về

những xác chết cháy đen

kẻ làm chứng trung thành

trước phiên tòa lịch sử

giữa tuột cùng đau khổ

đâu dám ngồi trau chuốt một câu thơ

nhân danh cuộc sống nói về cái chết

nhân danh niềm vui nói về nước mắt

nhân danh tình yêu tôi mãi mãi căm thù…”

Bao nhiêu người đã bị “nạn tai” vì những bài thơ đi ngoài chính sách như Phạm Tiến Duật với bài thơ Vòng Trắng; như Lý Phương Liên với bài thơ Nghĩ Về Thúy Kiều; như Ngô Văn Phú với bài thơ Sẹo Đất;… Cho nên cuộc đời Lưu Quang Vũ đầy những tai ương những điều bất như ý cũng là một lẽ tự nhiên của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa…

Trân trọng với thơ cho nên Lưu Quang Vũ luôn tự hỏi mình những câu hỏi khó:

“Ta đã làm gì? Như lũ viết thuê

Chạy theo những biển hàng ngắn ngủi

Nhưmg khuôn phép những trang in những hư danh một buổi

Ta nịnh người để người lại khinh ta

Sớm già cỗi, cố quên đi phẩm cách

Muốn yên thân ta trở thành hèn nhát

Nhân dân có cần thơ của ta đâu?

Các bạn tôi hiền lành trong sạch

Là bạn nhau thôi chắc là bạn tốt

Nhưng bạn ơi ta là những nhà thơ

Lòng tốt ở đây chẳng đáng một xu

Càng có tài lọc lừa càng nặng

Để yên ổn lương tâm ta tìm đến nhau thở than bực dọc

Rồi lại về cần cù ngồi viết nhảm

Ta an ủi mình đang thời buổi khó khăn

Nhưng nào có thời buổi nào không khó?…”

Nói đến thơ Lưu Quang Vũ là phải nói đến thơ tình, những bài thơ nồng nàn của cảm xúc thật cho những nàng thơ có thực. Thơ chuyên chở tình cảm và trao gửi đến đối tượng với tất cả tấm lòng đam mê, nhiều khi là thiết tha nhiều khi là buồn thảm. Cuộc sống đã tạo cho thi sĩ những ngã đường, tạo ra những hoàn cảnh của những lúc tận đường tuyệt lối. Cuộc tình đầu tiên bắt đầu từ thuở ấu thơ với cô diễn viên điện ảnh nổi tiếng Tố Uyên của phim “Con Chim Vành Khuyên”. Hai người quen biết nhau từ lúc còn đóng kịch thiếu nhi khi mới lên 9, 10 tuổi và nhà cũng gần nhau. Nhà Tố Uyên ở phố Bùi Thị Xuân có vườn cây mát có giếng nước trong veo nên Lưu Quang Vũ viết bài thơ “Vườn Trong Phố”:

“trong thành phố có một vườn cây mát

Trong triệu người có em của ta

Buổi trưa nắng bầy ong đi kiếm mật

Vào vườn rồi ong chẳng nhớ lối ra

Vườn em là nơi đọng gió trời xa

Hoa tím chim kêu bàng thưa lá nắng

Con nhện đi về giăng tơ trắng

Trái tròn căng mập nhựa sinh sôi”

Nhưng, cuộc tình chóng qua với sự chia ly. Lưu Quang Vũ làm thơ chia biệt:

“…anh cứ nghĩ thương nhau là tất cả

nhưng em cười khi anh chẳng thể nào vui

hai ta không đi một ngả đường dài

không chung khổ đau không cùng nhịp thở

những gì em cần anh chẳng có

em không màng những ngọn gió anh trao

chiếc cốc tan không thể khác đâu em

anh nào muốn nói những lời độc ác

như dao cắt lòng anh như giấy nát

phố ngoài kia ngột ngạt những toa tàu

tiếng bán mua tiếng cãi chửi ồn ào

những nhà cửa nhỏ nhoi những mắt người bụi bám…”

Mối tình thứ hai của Lưu Quang Vũ với họa sĩ Nguyễn Thị Hiền, con gái nhà văn Kim Lân, là một tình yêu như sét đánh mở ra một thời kỳ đầy bão tố của hai người. Khi ấy, Lưu Quang Vũ vừa ra khỏi bộ đội, không có công ăn việc làm và có gia đình nhưng ly dị. Còn Nguyễn Thị Hiền làm việc tại Trung ương Đoàn Thanh Niên và đang được đề nghị để ra nước ngoài du học. Chuyện tình hai người bị báo cáo bởi những người ghen tị gièm pha nên tổ chức Đảng phản đối bắt kiển thảo liên miên. Nguyễn Thị Hiền đau khổ vì không hiểu tại sao người ta lại độc ác đến như thế, đến nỗi kiểm soát và quản lý yêu đương cá nhân bắt buộc mọi người theo quy định tình cảm yêu thương. Bị đặt vào sự lựa chọn, bỏ Vũ để được đi học ở nước ngoài hoặc ở lại để gần Vũ. Chị đã chọn ở lại nhưng rồi hai người cũng không thể lập gia đình với nhau. Vũ làm nhiều thơ gửi Nguyễn Thị Hiền, những bài thơ của niềm hy vọng thật và nỗi đau cũng thật.

“Tôi mong em từ ngày thơ xa lắc

tôi tìm em trong bao trang sách đọc

tôi đợi em trên mọi ngã ba đường

tôi gọi em khàn giọng những đêm sương

tôi lầm lạc ngỡ em không có thực

em thuở ấy nơi nào em có biết

sao ngày xưa ta chẳng đến cùng nhau

phút bàng hoàng nhớ hết mọi buồn đau

tôi khóc trên tay em lặng lẽ

tôi sợ lắm mùa đông sao buốt thế

em có là mãi mãi để tôi yêu…”

Những giai nhân như Lưu Quang Vũ đã diễn tả là “mây trắng của đời tôi” đã lần lượt đi qua cuộc đời Vũ với tất cả nỗi đam mê cũng như đau đớn tận cùng. Nếu với Tố Uyên là của hôn nhân đầu tiên khởi đầu bằng tình yêu ngày thơ dại, thì Nguyễn Thị Hiền là người tình đắm say của hình tượng nàng thơ lãng mạn. Nhưng với Xuân Quỳnh lại là người vợ thủy chung chia vui sẻ buồn đầy ân nghĩa. Lưu Quang Vũ đã viết về Xuân Quỳnh:

“dù sao cuộc đời đã giành em lại cho anh

điều mong ước đầu tiên điều ở lại sau cùng

chúng ta đã đi bên nhau trên mặt đất

dẫu chỉ riêng điều đó là có thật

đủ cho anh mãi mãi biết ơn đời”

Cũng như, Lưu Quang Vũ đã viết “Và Anh Tồn Tại”:

“Giữa bao la đường xá của con người

thành phố rộng, hồ xa, chiều nổi gió

ngày chóng tắt, cây vườn mau đổ lá

khi tàu đông anh lỡ chuyến đi dài

chỉ một người ở lại với anh thôi

lúc anh vắng người ấy thường thức đợi

khi anh khổ chỉ riêng người ấy tới

anh yên lòng bên lửa ấm yêu thương

người ấy chỉ vui khi anh hết lo buồn

anh lạc bước em đưa anh trở lại

khi cằn cỗi thấy tháng ngày mệt mỏi

em là sớm mai là tuổi trẻ của anh

khi những điều giả dối vây quanh

bàn tay ấy chở che và gìn giữ…”

Xuân Quỳnh đã chia sẻ chung định mệnh với Lưu Quang Vũ, cùng một định mệnh của những cái chết mà dư luận cho rằng vì thanh toán chính trị. Nếu bị mưu hại như thế thì đối với chế độ hiện hữu, thơ và kịch của Lưu Quang Vũ đã là tiếng nói của dân gian, của những người thấp cổ bé miệng không thể nào im trước những bất công của cái “thiên đình” của những Nam Tào, Bắc Đẩu kiểu Lê Duẩn, Lê Đức Thọ…

Nguyễn Mạnh Trinh.

Be the first to comment

Leave a Reply