Mặc Khách Sài Gòn – những người muôn năm cũ.

Từ thuở còn ấu thơ, khi vừa lên trung học, tôi đã nhìn những văn nghệ sĩ như những thần tượng ở thế giới khác. Ở sân trường Chu Văn An, tôi nhìn những ông thầy viết văn làm thơ với cả một sự ngưỡng mộ. Những giáo sư như Nguyên Sa, như Vũ Hoàng Chương, như Vũ Khắc Khoan,… bây giờ đã thành người muôn năm cũ.

Với một kẻ mê sách vở như tôi thì những người muôn năm cũ của văn chương vẫn là những chân dung luôn luôn có vị trí tỏa sáng của lòng trân quý. Khi tôi tập tành viết lách và may mắn có dịp “quen biết” với những tác giả ấy, tôi vẫn giữ nguyên sự trân trọng của buổi xa xưa. Có tác giả tôi có dịp quen biết. Có tác giả tôi chỉ biết qua sách vở qua văn chương. Nhưng, trong ký ức tôi vẫn là những hình ảnh khó quên của những thâm cảm mơ hồ, của những nỗi niềm mà chỉ có sự cảm thông liên cảm mới giải thích được. Không phải tôi tự nhận là tri âm tri kỷ với những tác giả ấy. Tôi không có suy nghĩ ấy. Mà, khi làm những bài thơ tưởng niệm, cũng chỉ là những giây phút để nhớ về. Đến kệ sách, giở một cuốn sách có ghi lời đề tặng, là lúc tôi nhớ về và hướng vọng đến người đã đi khuất. Thời gian nhanh và vô tình. Dần dần những người của hôm nay đã đi vào quá khứ. Suốt mấy chục năm tập tành viết lách, biết bao nhiêu là kỷ niệm. Những câu văn ấy, đã đọc. Những bài thơ ấy, đã cảm đã thấy như mình đã để ngỏ một phần nào tâm sự riêng tư.

Tôi đọc “Mặc Khách Sài Gòn” trong cảm giác ấy. Có một chút thích thú của đền đài kỷ niệm, nhưng cũng có một chút bâng khuâng. Đất nước tôi, thời thế ấy, có những mảnh đời trong khói lửa, có những thân phận nhược tiểu nổi chìm theo cơn lốc chiến tranh. Và văn chương như một cách thế để biểu hiện được tâm tư thời đại.

Với tôi, tên tuổi Tô Kiều Ngân gợi đến một phương trời thi ca của chương trình Tao Đàn mà tôi đã say sưa nghe mỗi buổi tối phát thanh. Nhưng tôi cũng được biếtvới văn nghiệp suốt mấy chục năm, tiểu sử của ông như trải dài theo dòng thời thế của lịch sử.

Tô Kiều Ngân (1926- 2012) tên thật là Lê Mộng Ngân sinh quán tại Huế. Ông là một nhà thơ, nhà văn, nghệ sĩ thổi sáo và ngâm thơ nổi tiếng của những thập niên 50,60, 70 ở Sài Gòn. Ông hoạt động nghệ thuật sôi nổi, cùng các nhà thơ Đinh Hùng, Thanh Nam, nghệ sĩ Hồ Điệp, Hoàng Oanh,… thành lập ban thi văn Tao Đàn trên Đài Phát Thanh Sài Gòn, nơi tiếng sáo và giọng ngâm thơ tuyệt vời của ông được bao nhiêu người mến mộ. Sau đó ông lại cùng nhà văn Thanh Nam chủ trương tuần báo Thẩm Mỹ rồi cộng tác với các tạp chí như Sáng Tạo, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, Tiểu Thuyết Tuần San…

Tác phẩm đầu tiên của ông là kịch thơ bốn màn Ngã Ba Đường do ban kịch Sông Ô trình diễn trên sân khấu ở Huế.

Vì là một quân nhân nên có thời ông làm chủ bút bán nguyệt san Quân Đội do Nha Chiến Tranh Tâm Lý phát hành đồng thời chủ trương biên tập nguyệt san Văn Nghệ Chiến Sĩ của QLVNCH. Ông đã xuất bản tập thơ Ngàn Năm Mây Trắng, tập truyện Người Đi Qua Lô Cốt, sách biên khảo Chuyện Huế Ít Ai Biết, viết ca khúc Tiếng Sáo Tao Đàn. Ông mất ngày 20 tháng 10 năm 2012.

Bìa sau của Mặc Khách Sài Gòn có lời giới thiệu: “Với tập di cảo Mặc Khách Sài Gòn, Tô Kiều Ngân bằng trí nhớ và kỷ niệm đã vẽ lại chân dung mười lăm văn nghệ sĩ cùng thời. Họ hầu hết là những người thân thiết với ông, là văn hữu, là cộng sự, là tri âm tri kỷ. Có người đã cùng tác giả đi vào cõi vĩnh hằng, những người còn lạ ihoặc im hơi lặng tiếng, hoặc vẫn chưa dứt mộng văn chương, thế nhưng chúng ta sẽ gặp lại tất cả họ ở tập sách này, trong không khí không thể quên của một thời văn nghệ.”

Qua trí nhớ để tìm về kỷ niệm, tác giả Tô Kiều Ngân đã đi qua những nẻo đường của văn học sử mà những khuất khúc, những tâm sự chất chứa trong văn chương được phác họa một cách gián tiếp. Đời sống của 15 “tao nhân mặc khách” Sài Gòn như mở ra một thời đại văn chương đặc biệt của dân tộc Việt Nam. Những tác giả đã bị lôi đi theo thời thế không có gì cưỡng lại và ở đó, định mệnh của mỗi người cũng chìm nổi theo dòng sống đầy biến cố lẫn lộn giữa quá khứ và hiện tại, giữa mơ ước và thất vọng. Có phải họ là đại diện cho những người thua trận sau biến cố của Sài Gòn sụp đổ năm 1975?

“Mặc khách là từ chỉ các văn nhân, thi sĩ cùng những người hoạt động nghệ thuật, mong muốn đem tài hoa, tim óc ra tô đẹp cho đời. Chữ “khách” hàm ý chỉ những người của đám đông, được nhiều người lưu tâm hay ngưỡng mộ.

Mặc khách Sài Gòn khá đông, mỗi người một vẻ, không thể một lúc mà viết cho hết được nên chỉ xin giới hạn trong một số người mà tác giả may mắn được quen biết, giao du hoặc cùng hoạt động chung trong một môi trường nghệ thuật”

Di cảo này viết về những khuôn mặt văn học nghệ thuật như nhà thơ Nguyễn Vỹ, nhạc sĩ Lê Thương, nhà thơ Vũ Hoàng Chương, nhà thơ Đinh Hùng, nhà thơ Tạ Tỵ, nhà thơ Bùi Giáng, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Cung Trầm Tưởng, nhà thơ Nguyên Sa, nhà thơ Hoàng Trúc Ly, nhàvăn Nguyễn Thị Thụy Vũ, nhà thơ Tô Thùy Yên, nhà văn Nhã Ca, nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, nhà thơ Phạm Thiên Thư. Toàn là những khuôn mặt tiêu biểu cho hai mươi năm văn học miền Nam với những tác phẩm đóng góp đáng kể vào kho tàng văn hóa dân tộc. Tô Kiều Ngân đã ở lại Sài Gòn không sang Mỹ định cư dù ông đã trải qua mười năm đày ải trong trại tù Cộng Sản. Một người bạn của ông là nhà văn Văn Quang là sĩ quan cấp tá của QLVNCH, và phải chịu mười năm tù khổ sai Công sản cũng ở lại Sài Gòn và cũng đã viết những bài viết phần nào phản ánh tâm tư, đời sống của những văn nghệ sĩ của chế độ VNCH sống dưới chế độ Cộng sản.

“Gió bụi thời gian, chiến tranh chia cắt, khói lửa triền miên đã vùi dập làm thất lạc không ít tác phẩm văn học của một thời tại miền Nam. Điều đó gây khó khăn không ít cho những ai muốn nghiên cứu văn học sử. Lớp hậu sinh có thể hoàn toàn không biết gì về diện mạo của mảng văn học nghệ thuật lúc họ chưa ra đời. Mong rằng tập sách này sẽ cung ứng cho họ một ít tư liệu giúp tìm đến những mặc khách của Sài Gòn để biết rằng có một thời, có những người đã sống như thế, suy nghĩ như thế và viết như thế…”

Tô Kiều Ngân gắn liền sinh hoạt của mình với Ban Tao Đàn ở Đài Phát Thanh Sài Gòn. Tuy ông vừa làm báo quân đội, vừa viết văn làm thơ và cóhơn 20 năm ở trong quân ngũ, nhưng dấu ấn mạnh nhất vẫn là sinh hoạt thơ văn với Ban Tao Đàn. Nếu coi đó là một cuộc chơi thì là một cuộc chơi lý thú nhất của không những riêngcá nhân Tô Kiều Ngân mà còn cả của thi ca Việt Nam thời kỳ đó nữa.

Ký giả Lô Răng tức nhà văn Phan Lạc Phúc viết về Ban Tao Đàn với những người chủ trương nồng cốt:

“Người khai sinh và điều khiển chương trình Tao Đàn, như cả nước đều biết là thi sĩ Đinh Hùng. Chương trình Tao Đàn có thể chia ra làm 3 bộ phận. Bộ phận quan trọng nhất là ban biên tập và diễn đọc gồm Đinh Hùng, Thanh Nam, Thái Thủy, vài năm sau có Huy Quang Vũ Đức Vinh từ Nha Trang vào cộng tác. Bộ phận thứ 2 là ban ca ngâm gồm những tài tử nam, nữ trình diễn thường xuyên hay tùy hứng. Người “đa năng” nhất trong Ban Tao Đànlà Tô Kiều Ngân. Anh vừa là tài tử diễn ngâm, vừa biên tập vừa trong ban nhạc. Tiếng sáo Tô Kiều Ngân réo rắt thường được coi là “indicatif” của Tao Đàn hợp với tiếng đàn thập lục trầm bổng của Bửu Lộc, tiếng piano trầm ấm trước của Ngọc Bích sau của Phạm Đình Chương. Về giọng ngâm nam ngoài họ Tô còn có Hoàng Thư, một thời giọng ngâm Thanh Hùng cũng có góp tiếng trên đài. Tô Kiều Ngân tuy giọng không khỏe nhưng anh là người ngâm “khéo” nhất, ngâm giọng Bắc giọng Trung đều nhuyễn. Hoàng Thư có chất giọng say sưa mạnh mẽ được đời nhớ mãi trong Bài Ca Ngư Phủ của Vũ Hoàng Chương. Thanh Hùng với giọng thổ pha kim xuất sắc trong những tác phẩm bi hùng. Có những giọng ngâm không có mặt lâu năm trên đài nhưng vẫn được đời ghi nhớ như Quách Đàm trong những bài lục bát hay Thiếu Lang trong Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác. Về giọng ngâm nữ lúc khởi đầu phải nhắc tới cái ngọt ngào của Giáng Hương nhưng các tay sành điệu đều không thể nào quên giọng ngâm đổ hột đặc sắc của bà Đàm Mộng Hoàn, một danh tiếng vang lừng taị Khâm Thiên tiền chiến trong Tỳ Bà Hành. Giọng ngâm nữ nhiều năm làm thổn thức trong trái tim thính giả là Hồ Điệp trong những bài thơ nức nở TTKH. Về sau có một giọng nữ như sương như khói làm khởi sắc những vần ca dao dân tộc và những bài ca huyền sử. Đó là giọng ngâm Hoàng Oanh…”

Đinh Hùng có hai tập thơ nổi tiếng là Đường Vào Tình Sử và Mê Hồn Ca. Hai tập thơ với hai khuynh hướng khác nhau. Một của thế giới sơ khai huyền mặc và một của thế giới tình yêu lãng mạn. Theo lời kể của chính thi sĩ, khi mới bắt đầu làm thơ, làm được bài nào ông đều đưa nhờ Thế Lữ đọc và cho ý kiến. Nhưng lần nào Thế Lữ cũng lắc đầu cho đến khi Đinh Hùng đưa bài Kỹ Nữ, Thế Lữ mới vui vẻ gật đầu và khuyến khích ông đi vào thế giới huyền ảo ấy. Và chính Thế Lữ đã mượn của Đinh Hùng trọn vẹn bài thơ Kỹ Nữ vào truyện Bồ Tùng Linh khiến cho cái tên Đinh Hùng nổi bật lên từ thời kỳ đó. Tìm được lối đi riêng, Đinh Hùng sáng tác thêm nhiều bài thơ khác rồi chọn lọc để in thành tập Mê Hồn Ca.

Nếu nhìn Đinh Hùng từ hai thi tập tiêu biểu, chúng ta nhìn thấy rất rõ những chuyển biến tư tưởng. Một khởi từ “Mê Hồn ca”, của cõi riêng sơ khai loài người, của những tâm tình hoang dại, của những thần tượng mờ ảo, của những khuôn trời mê đắm, của ngôn ngữ phát nguồn từ rung cảm của một cõi sống nào khác với đời sống hiện nay. Một trong “Đường vào Tình Sử”, của một phương trời tuy gần cận trong cuộc sống nhưng đầy những bâng khuâng tiếc nuối, của một thời ký vãng đã qua, của những chuyện tình không bao giờ tàn phai trong tâm thức. Không phải Đinh Hùng trốn lánh cuộc sống mà, chính bằng thi ca, ông đã đi tìm thế giới miên viễn của tâm tư, của trái tim muôn đời không bao giờ ngừng đập.

Tô Kiều Ngân kể về kỷ niệm với nhà thơ Đinh Hùng:

“Mỗi lần xong việc ở đài phát thanh Đi nh Hùng thường rủ chúng tôi về nơi anh ở, không phải vào nhà anh mà họp nhau tạimột quán ruơụ ở gần nhà, đường Lê Lai. Đêmđêm đường này vắng ngắt có lần uống say Đinh Hùng cao hứng mở cuộc thi…bò ra đường xem ai bò nhanh. Thế là Thanh Nam, Tô Kiều Ngân, Đinh Hùng, Thái Thủy, Hoàng Thư, Quách Đàm…hăng hái tham gia môn vận động chưa từng diễn ra trên bất cứ vận động trường nào! Bò xong, rồi nằm lăn ra đường, vừa đọc thơ, vừa ngửa mặt lên trời cười với trăng sao…”

Tô Kiều Ngân viết về những ngày cuối cùng của chủ soái Tao Đàn:

“Đinh Hùng từ giã Thi Văn Tao Đàn sau mười bốn năm gắn bó. Căn bệnh ung thư hành hạ anh đến mức phải nằm bệnh viện. Anh mất ở bệnh viện Bình Dân lúc 5 giờ sáng ngày 24 tháng 8 năm 1967. Tôi đến thăm anh tại nhà xác. Đinh Hùng nằm đó như một đứa trẻ. Sinh thời người đã nhỏ nhắn, lúc mất thân xác lại càng bé nhỏ hơn. Nhờ sự giúp đỡ của một vị tướng yêu thơ lúc đó làm tổng trưởng thông tin nên đám tang anh được tổ chức rất trọng thể. Anh được an táng tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Sinh thời thơ Đinh Hùng có ấp ủ một mong ước:

Khi anh chết các em về đây nhé

Vì chút tình lưu luyến với nhau xưa

Anh muốn thấy các em cùng nhỏ lệ

Tay cầm hoa xõa tóc đứng bên mồ…

Có ai ngờ thực tế xảy ra đúng như niềm mong ước trong thơ. Trong đám tang của anh, người ta thấy có đến hai chục cô thiếu nữ mặc áo trắng, xõa tóc tay cầm hoa lặng lẽ sắp hàng đi theo linh cữu. Họ đến bên mồ và lặng lẽ thả những bó hoa xuống lòng huyệt, ngậm ngùi tiễn đưa người thi sĩ. Cần biết rằng việc này không do một sự cố ý nào cả. Đinh Hùng mất rồi vợ anh phải trả căn nhà ở gần chợ Tân Định lại cho chủ. Đang chưa biết ở đâu thì may thay vị tướng yêu thơ mà lại có quyền hành lúc đó đã vận động cấp cho bà quả phụ Đinh Hùng một căn nhà ở khu Khánh Hội. Nhưng bà Đinh Hùng với con trai là Đinh Hoài Ngọc không thể ôm một căn nhà lớn mà nhịn đói nên đành bán đi rồi lui vào vùng xa đô thành hơn ở bến Phạm Thế Hiển, lúc đó còn đìu hiu lau lách dựng một mái chòi sống qua ngày. Cũng chính nơi đây Vũ Hoàng Chương đã cùng vợ con sống chui rúc những ngày cuối đời.”

Vị tướng có lòng yêu thơ và ưu ái với nghệ sĩ là Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị. Hiện ông đang sống tại Quận Cam. Tôi có hỏi ông về chuyện này thì ông bảo có giúp đỡ trong việc tổ chức trọng thể đám tang nhà thơ Đinh Hùng. Riêng việc cấp căn nhà thì ông chỉ vận động để gia đình nhà thơ được mua với giá rẻ tượng trưng thôi chứ không phải là cấp không… Tướng Nguyễn Bảo Trị là người yêu văn chương đã cùng viết với nhà văn Toan Ánh với bút hiệu Cửu Long Giang những tác phẩm như Người Việt…Đất Việt nhằm ghi lại những nét đẹp của quê hương qua nhữngcuốn địa phương chí.

Một văn tinh rực rỡ của văn học Việt Nam là nhà thơ Vũ Hoàng Chương cũng được Tô Kiều Ngân trong Mặc Khách Sài Gòn nhắc đến những ngày cuối cùng với nhiều thương cảm:

“Đầu năm 1976, Vũ đi học tập cải tạo. Trung thu năm ấy anh được tha về vì sức khỏe quá yếu, non một tuần sau thì mất.

Lúc ở trong trại, họ Vũ có làm mười hai bài thơ cuối đời, tên chung là Đọc lại người xưa, nói về các danh gia như Đỗ Phủ, Lý Bạch, Đỗ Thu Nương, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Thị Lộ, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm…, Vũ chỉ làm trong đầu rồi nhẩm thuộc lòng đợi khi về nhớ lại sẽ viết ra giấy. Theo nữ sĩ Hoàng Hương Trang, bạn thân của Vũ, thì còn có một bài nữa, nhan đề Nước Chảy Qua Cầu, bài này có mười hai câu, Vũ viết thành sáu lần, mỗi lần hai câu trên một mảnh giấy vò nát dùng gói quà thăm nuôi của người nhà đưa vào và gởi ra. Sau này bà Vũ Hoàng Chương đã chép lại nguyên văn toàn vẹn bài thơ ấy, như vậy có mười ba bài, tính cả bài thơ ăn Tết cuối cùng Vịnh Tranh Gà Lợn thì tổng cộng Vũ có mười bốn bài thơ di cảo chưa hề công bố.

Không được may mắn như Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương ra đi trong lặng lẽ. Đám tang anh cũng cử hành trong lặng lẽ, nghèo nàn hiu hắt. Mọi người lúc ấy còn đang bận rộn với nhưng nỗi âu trước mắt, đa số bạn bè và người hâm mộ anh kẻ đi cải tạo, kẻ ra nước ngoài, nhiều người còn lại không biết tin anh chết nên đám tang anh chỉ thưa thớt dăm ba người đi đưa. Đám tang vắng đến nỗi mà nhà thơ Bàng Bá Lân khi gặp nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương ở đó đã thốt lên rằng “Ừ, ít ra thì cũng phải có Tôn Nữ Hỷ Khương chứ” Mười năm sau,1986, mộ Vũ Hoàng Chương được cải táng về chôn tại nghĩa địa của chùa Giác Minh tại Gò Vấp.”

Mặc Khách Sài Gòn còn kể chuyện về nhà thơ Hoàng Trúc Ly:

“Sau ngày 30 tháng 4, Hoàng Trúc Ly hồ hởi làm thơ mới gửi đăng, tôi còn nhớ bài thơ mở đầu bằng hai câu:

Thôi ngủ gối đầu lên đại bác

Con tim no máu gối Tìnhyêu…

Hòa bình rồi, không còn bắn nhau, đại bác xếp xó con người tha hồ mà yêu thương. Không chỉ có Anh yêu Em mà Chúng Ta yêu nhau, không còn tù đày, không còn khủng bố giết chóc. Trong yêu thương có chỗ cho hòa giải hòa hợp có quantâm, giúp đỡ, tha thứ, cảm thông.

Thơ đăng xong, Ly mới giật mình. Thực tế xảy ra không hoàn toàn như vậy: Sài Gòn náo loạn. Bao nhiêu bạn bè của hắn tan tác, hoặc vào trại tập trung hoặc đi ngoại quốc. Các tòa soan báo đóng cửa, nhà xuất bản dẹp tiệm, sách vở mất mát. Hoàng Trúc Ly không còn biết mình phải làm gì để có cái ăn, cả cơm trắng lẫn cơm đen đành sống nhờ vào mẹ già và mấy cô em gái. Cô đơn cùng cực”

Tô Kiều Ngân kể về những ngày đen tối sau năm 1975 với những văn nghệ sĩ nổi tiếng một thời:

“Còn nhớ thời ấy là thời vất vả nhất của văn nghệ Sài Gòn. Nhạc sĩ Phạm Đình Chương, tác giả Tiếng Dân Chài và Hội Trùng Dương ngày nào cũng ra Chợ Trời để bán đài radio cũ. Giọng ca vượt thời gian Thái Thanh không hát Dòng Sông Xanh nữa mà đi bán xôi. Ca sĩ Lan Ngọc bán rau muống. Nghệ sĩ ngâm thơ Hồng Vân đi bỏ mối từng lon sữa hộp, ký đường. Nghệ sĩ Huyền Trân thì đi buôn từng trăm gam cà phê phải giấu trong nịt ngực sợ bị tóm…

Ca sĩ “ngụy” không được hành nghề. Muốn kiếm sống phải đi “hát chui”. Thế giới hẳn phải lấy lạ với từ này. Còn nhớ có bữa Hoàng Trúc Ly uống bia với bạn bè trước vỉa hè trụ sở Hội Văn Nghệ ngồi dưới bóng mấy cây sao cổ thụ. Bữa đó có Cung Tuch Biền tham gia. Biền có một chiếc xe ba gác đạp đi chở đồ thuê. Hôm đó đạp đã mấy ngày qua đường này, ngõ khác mà không có ai thuê chở gì cả, bỗng có một bà chủ ngoắc xe của Biền lại:

–           Chở gì vậy cô?

–           Một cái tủ

–           Tủ đâu?

–           Ở trên tầng ba…

 Một mình làm sao vác nổi một cái tủ từ trên tầng ba xuống đất để cho lên xe ba gác. Biền méo mặt lặng lẽ lắc đầu và đành biến đi nhanh. Chiếc xe không chở tủ được nhưng lại đắc dụng để chở Hoàng Trúc Ly và hai người bạn khác lúc đó đã say mèm, nằm thẳng cẳng trên xe như những xác chết còn Cung Tích Biền thì ráng sức nhoài mình vừa đạp vừa thở lặc lè.

Dạo ấy tôi đang đốn tre, vác nứa và chăn một bầy bò ba mươi con trên núi rừng Sơn La…”

Ôi những người muôn năm cũ! Những mảnh đời tan tác muôn nơi trong cơn bão thời thế loạn cuồng. Bữa hôm nay, giở vài trang sách của tác gỉa đa tài tự nhiên trong lòng buồn buồn ngậm ngùi. Tô Kiều Ngân đã sống và có kỷ niệm với nhiều người nên chỉ trong một cuốn sách chỉ cóhơnhai trăm sáu sáu trang mà chuyên chở được những nét đặc biệt của một nền văn học phong phú. Bài viết này chỉ đề cập đếnba khuôn mặt trong mười lăm chân dung tác giả. Thành ra những dòng chữ này chỉ là một phần của bài viết đầy đủ hơn khi đọc và giở từng trang sách của Mặc Khách Sài Gòn…

Nguyễn Mạnh Trinh.

Be the first to comment

Leave a Reply