MÙA XUÂN NĂM ẤY

Năm 1968, mặc dầu đất nước đang chiến tranh, gia đình tôi, nhất là đám trẻ con như tôi, vẫn rộn ràng chuẩn bị đón Tết trong không khí đầm ấm, đậm đà truyền thống dân tộc.

Cậu tôi làm việc tại phòng Chiến Tranh Chính Trị Quân đoàn 1 vì có phiên trực nên không thể về Huế đón tết với gia đình được. Cậu tôi ở lại ăn tết với gia đình tôi ở Đà Nẵng. Nhà tôi ở gần cây xăng Shell. Từ đây lên Bộ Tư Lệnh Quân đoàn 1, chỉ cần chạy xe Honda 15 phút là đến. Cậu tôi nói phía Việt Cộng đã đồng ý hưu chiến để người dân mọi nơi có thể đón tết dân tộc an lành.

Tôi còn nhớ đêm giao thừa năm đó cậu tôi đã cho nổ những viên pháo của quân đội dùng làm lựu đạn tập trên thao trường. Tiếng nổ của những viên pháo này “ác liệt” gấp mấy lần những viên pháo tống ba tôi mua trên phố.

Tuy nhiên khi chúng tôi vừa chuẩn bị vào giường ngủ thì cậu tôi và ba tôi phát hiện những tiếng nổ lạ vẫn kéo dài sau khi dứt tiếng pháo giao thừa. Sau khi nghe ngóng một lúc cậu tôi bảo với ba tôi chắc chắn Việt cộng đã tấn công vào Bộ Tư Lệnh Quân đoàn 1. Cậu tôi hấp tấp mặc quân phục và phóng xe Honda ra khỏi nhà. Tuy nhiên khoảng 1 tiếng đồng hồ sau cậu tôi quay lại và báo cho ba tôi biết là đang đánh lớn chung quanh vành đai Bộ Tư Lệnh. Cả phi trường Đà Nẵng cũng bị tấn công. Đêm hôm đó ba tôi thức với cậu tôi cho đến sáng.

Sáng ngày mồng một Việt Cộng rút chạy khỏi khu vực Bộ Tư Lệnh, cậu tôi vào trình diện đơn vị. Thế là không còn tết nhứt gì nữa. Không liên lạc gì được với đại gia đình ở Huế.

Ngày mồng hai tết chúng tôi nhận được tin thành phố Huế đã bị Việt Cộng tràn ngập. Bên nội và bên ngoại của tôi đều sống ở Huế. Ba mẹ và cậu tôi như ngồi trên đống lửa.

Ngày mồng ba tết tôi thức dậy và phát hiện một  người cậu khác của tôi cũng là sĩ quan quân đội đang nằm ngủ như chết trong nhà. Mẹ tôi nói, Việt cộng đã chiếm Huế, nhưng cậu tôi may mắn giả dạng phụ nữ, chạy bộ dọc theo bờ biển vào đến được Đà nẵng an toàn.

Lúc đó tôi chỉ là một đứa con nít. Tuy nhiên thái độ âu lo của ba tôi, cậu tôi và việc cậu tôi phải chạy trốn bỏ lại cả gia đình ngoài Huế, chứng tỏ Việt cộng phải là những con người ác độc ghê gớm lắm mới làm cho mọi người lo sợ đến như vậy.

Không lâu sau đó tôi đã hiểu được lý do vì sao người ta sợ Việt cộng.

Khi thành phố Huế được giải phóng, thì cũng là lúc tiếng khóc than thảm thiết của người dân Huế có thể nghe ở khắp mọi nơi. Hầu như gia đình nào ở Huế cũng có người thân bị “cách mạng” mời đi họp rồi mất tích luôn. Có người biết thân nhân của mình đã bị giết, mà không dám khóc lóc, than thở gì. Khi thấy lính quốc gia vô, lúc đó mới được tự do mà than khóc.

Nhà dì tôi, vợ góa của cố trung tá thiết giáp HĐH, bị Việt cộng đột nhập. Trong hơn ba tuần dì tôi phải sống chung nhà với một toán Việt cộng. Ba lần dì tôi bị bọn Việt cộng mang ra trói vào gốc cây trong vườn định bắn, nhưng không hiểu vì sao cuối cùng chúng tha dì tôi. Tuy nhiên dì tôi tuy sống mà đã chết. Sau đó dì tôi bị những chấn thương tinh thần nặng nề không bao giờ hồi phục được nữa.

Một người cậu khác của tôi sống ở Gia Hội bị Việt cộng đến nhà mời đi họp. Người cậu này chỉ là họa sĩ, chứ không phải sĩ quan quân đội như các cậu khác. Đêm mồng mười tết, một toán Việt cộng đến nhà mời cậu tôi đi họp với “ủy ban nhân dân cách mạng”. Cậu tôi mạnh dạn từ biệt vợ con ra đi vì tin rằng mình không phải là bên quân đội hay cảnh sát gì. Cậu tôi ra đi và không bao giờ quay trở lại.

Khi những mồ chôn tập thể các nạn nhân của Việt cộng được khai quật, mợ tôi chỗ nào cùng con cái cũng tới tìm, may ra có nhận dạng được thi hài của cậu không. Tuy nhiên trong thâm tâm mợ tôi vẫn hy vọng rằng cậu tôi chưa chết.

Mãi đến khi người ta phát hiện thi hài của mấy ông bác sĩ Đức của trường Đại học Y khoa Huế, thì mợ tôi mới thất kinh. Mấy ông bác sĩ người Đức đến Việt Nam giảng dạy cho sinh viên mà còn bị Việt cộng giết, huống chi cậu có nhiều anh em là sĩ quan quân đội. Nhưng xác cậu tôi vẫn chưa tìm thấy.

Cuối tháng tư năm đó, mợ tôi không biết linh tính thế nào, một hôm đang ngồi trong nhà bỗng nhiên đứng dậy đi ra sau vườn. Cậu mợ tôi có một khu vườn cây ăn trái rất rộng. Chăm sóc khu vườn một tay cậu lo. Mợ ít khi nào đi quá đám rau xanh gần sát hông nhà.

Hôm đó khi thủng thỉnh đi ra vườn sau, bỗng nhiên mợ nhìn thấy một chiếc dép của cậu. Mợ tôi nhớ rõ đêm hôm bị ‘cách mạng’ mời đi họp, cậu mang đôi dép đó. Tuy nhiên nếu cách mạng mời đi họp thì cậu phải đi ra phía cổng nhà chứ làm sao lại có chiếc dép ở cuối vườn. Mợ tôi la thất thanh. Mọi người chạy đến và bắt đầu đào bới. Chỉ năm phút sau người ta tìm thấy xác cậu bên cạnh gốc mấy cây chuối cau. Xương sọ của cậu bị đập vỡ nát, xác nằm úp sấp xuống mặt đất, vùi sơ sài trong một hố đất nông.

Cậu tôi chỉ là một trong số hơn 5000 người dân Huế bị chính những người đồng bào của mình, nhân danh ‘cách mạng’ trói ké bằng đủ mọi loại giây dợ, giết chết bằng đủ loại vũ khí, vùi lấp trong đủ mọi tư thế, còn tệ hơn người ta giết và chôn gia súc.

Trả lời một cuộc phỏng vấn tại Pháp vào năm 1997, một nhà văn Việt Nam là Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nói về vụ thảm sát đồng bào Huế như sau: “Mậu Thân đã xẩy ra cách đây gần 30 năm. Sách vở, tài liệu đã được công bố từ nhiều phía của cuộc chiến, khá đầy đủ, có thể làm cơ sở cho những phân tích khoa học để giải phẫu một cuộc chiến mà thật ra, không thể đơn giản tách riêng ra trong biến cố Mậu Thân. Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng. Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ, từ phía những người lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế, chứ không phải một chính sách toàn cục của cách mạng. Bởi vì tình trạng giết chóc bừa bãi như vậy, đã không xẩy ra ở những địa phương khác trong Mậu Thân, ngay cả trên một địa bàn rộng lớn với tình trạng xen kẽ giữa những lực lượng đối địch rất phức tạp như ở Sài Gòn thời ấy”.

Ông Tường đã đưa ra lời nhận định nói trên sau khi tìm cách trích dẫn những bằng chứng cho thấy rằng ông không có mặt trong đoàn quân Việt cộng chiếm đóng thành phố Huế năm 1968. Ông Tường khẳng định là ông không hề giết ai ở Huế với lý do lúc đó ông đang ở trên núi!

Tuy nhiên trong cuốn phim tài liệu “Việt Nam Thiên Lịch Sử Truyền Hình” chính ông Tường đã nói rằng: “Quân đội cách mạng phải làm như vậy để những phần tử có nợ máu với nhân dân không còn thực hiện được tội ác nữa”.

Tôi tin rằng những lời ông Tường trả lời phỏng vấn ở Pháp là hoàn toàn giả dối. Có lẽ ông Tường đã nói như trên khi trên đầu đã hai thứ tóc, và có thời gian để suy gẫm lại về con đường cách mạng ông đi qua, về những tội ác mà ông đã nhúng tay vào nhân danh một người con xứ Huế yêu nước thương nòi.

Hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Phan và Hoàng Phủ Ngọc Tường là bạn văn chương của ba tôi, khi họ đang học trung học với nhau ở Huế. Ba tôi nói giai đoạn từ 1945 đến 1955 ở Huế phong trào âm nhạc, văn chương phát triển rất mạnh trong giới sinh viên học sinh Huế. Theo đó là tinh thần chống Pháp cũng rất mạnh. Ba tôi nói ông quen hai anh em Phan và Tường qua các sinh hoạt văn nghệ và hướng đạo. Tuy nhiên từ khi ba tôi quyết định theo học sư phạm và vào Quãng nam làm nghề gỏ đầu trẻ thì họ không còn liên lạc với nhau nữa.

Sau này khi tôi hỏi ba tôi rằng liệu những người như Phan và Tường, những học sinh sinh viên yêu văn chương âm nhạc thời đó có thể trở thành những kẻ giết người không gớm tay như lịch sử cáo buộc hay không. Ba tôi suy nghỉ một lúc lâu, rồi trả lời: “Ba tin rằng người cộng sản có thể làm tất cả mọi điều. Nếu người cuồng tín có thể giết người vì lý do tôn giáo và tin rằng họ được Thượng đế tha tội, thì những người cộng sản cũng vậy. Cách mạng đối với những người cộng sản còn thiêng liêng hơn tôn giáo nhiều”.

Ls Lê Đức Minh

Be the first to comment

Leave a Reply