Nghề cầm bút và Nguyễn Hiến Lê

Nhà dịch thuật Nguyễn Hiến Lê (1912-1984).

Nguyễn Hiến Lê là một cây bút chuyên nghiệp thời 20 năm văn học miền Nam, song nhiều người phân vân khi phải tìm một tiếng chính xác để gọi ông: nhà văn, nhà biên khảo, hay nhà soạn sách? Người ta thường nói nhà văn này viết được vài chục cuốn tiểu thuyết, nhà thơ kia làm được vài trăm bài thơ, hay soạn giả nọ trước tác được những bộ sách đồ sộ, giá trị. Riêng ông, người ta nói ông “trước tác” hay soạn ra được tới 120 bộ sách.

Chữ trước tác, tra Tự Điển Việt Nam, thấy định nghĩa là “soạn ra tác phẩm,” hơn là sáng tác ra tác phẩm, vì trước hết, chữ sáng tác thường dành cho các nhà thơ, nhà văn, hay họa sĩ, là những người khởi thủy viết ra một câu văn một câu thơ không trùng lẫn với ai, chưa có ai từng viết, hay một họa sĩ nhạc sĩ vẽ nên một bức tranh, một bản nhạc, trong đó đường nét và cung bậc không lập lại của ai trước đó, còn trước tác ta có thể hiểu là vừa sáng tác, vừa biên soạn, công phu hơn, mất nhiều sức lực cần lao hơn là chỉ “vẩy bút thành thơ” hay thình lình có hứng viết ngay được một khúc nhạc, một câu văn.

Khi nói về những người chọn nghề cầm bút ở miền Nam, người ta không thể không nhắc đến Nguyễn Hiến Lê, ông biên soạn thơ văn rất nhiều song dường như không ai gọi ông là nhà thơ, cũng ít ai gọi ông là nhà văn, mặc dù cuốn “Con Đường Thiên Lý” của ông là một cuốn truyện, hay “Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười” của ông là một du ký khoa học, một chuyện kể; riêng tôi thoải mái khi gọi ông là soạn giả. Sau này, dường như hai tiếng dịch giả cũng được dùng nhiều hơn khi nói đến ông, nhưng không nhiều bằng hai tiếng soạn giả, và cũng có một số người gọi ông là học giả, một số khác lại gọi ông là nhà nghiên cứu.

Trước khi đồng ý chọn một danh từ đúng nhất để gọi ông, người viết bài này lược kể dưới đây một số nhan đề trong các sách ông đã là tác giả:

-Tổ Chức Công Việc Theo Khoa Học, 1949.
-Luyện Văn, 1953.
-Lịch Sử Thế Giới, 1954.
-Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc, 1955.
-Thời Mới Dạy Con Theo Lối Mới, 1958.
-Gương Danh Nhân, 1959.
-Kiếp Người, dịch văn S.Maugham, 1962.
-Hương Sắc Trong Vườn Văn, 1963.
-Chiến Tranh và Hòa Bình, dịch văn Leon Tolstoy, 1968.
-Cổ Văn Trung Quốc, 1966.
-Văn Học Trung Quốc Hiện Đại, 1969.

Đó là 10 cuốn đầu tiên của ông, trong số hơn 100 cuốn ông đã soạn. Người viết bài này không thể biết đích xác, và chưa bao giờ nhìn thấy tất cả những cuốn sách mà ông đã soạn, hay đã dịch. Sách dịch thì chắc chắn là cuốn chuyển ngữ phải chính xác từ nguyên tác Hán văn, Pháp ngữ hay Anh ngữ ra Việt ngữ. Vậy ông Lê hẳn là người thành thạo ít ra là 3 ngoại ngữ căn bản trên. Cộng với sách tự viết, tự soạn, người viết bài này tin rằng ông là một soạn giả chuyên nghiệp của miền Nam, và của Việt Nam. Chữ soạn giả ở đây có nghĩa bao quát, khác hẳn ý nghĩa chuyên môn như soạn giả cải lương.

Khi còn niên thiếu, tôi rất thích truyện ngắn “Mưa” ông dịch của S. Maugham. Danh từ “Mưa” đã dùng chung cho tập truyện ngắn quốc tế ông Lê dịch của nhiều tác giả, in chung trong một tập.

Nguyễn Hiến Lê sinh năm 1912 tại Hà Nội, chính gốc gia đình thuộc Sơn Tây. Ông học trường Bưởi (Chu Văn An sau này), ngoài 20 tuổi trở thành công chức và nhiệm sở lại ở Nam Kỳ, do đó ông vào Nam rất sớm, và ở luôn tại miền Nam và mất tại miền Nam vào năm 1984.

Năm 1969, Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa khởi sự đưa ra dự thảo thành lập Hàn Lâm Viện, rồi sau rút xuống, thu nhỏ lại thành dự án thành lập Viện Văn Hóa, tờ Khởi Hành do tôi trông coi mở cuộc phỏng vấn các nhà văn và giới giáo dục về Vấn Đề Văn Hóa, tôi đã có dịp phỏng vấn Nguyễn Hiến Lê. Sau đây xin trích dẫn một đoạn trong bài trả lời của ông, đăng trên trang nhất tuần báo Khởi Hành tháng 7.1969. [Năm 1969 cùng một hai bạn trẻ tôi đã mở cuộc phỏng vấn rộng lớn về Vấn Đề Văn Hóa, dường như do sự tác động của sinh hoạt chính trị: lúc ấy Quốc Hội đang thảo luận về dự trù thành lập Hàn Lâm Viện.]

Nguyễn Hiến Lê trả lời như sau: “Tôi xin vắn tắt trả lời mấy câu hỏi của Khởi Hành: Có người hiểu danh từ Văn Hóa theo một nghĩa rộng bao gồm mọi hoạt động của con người. Riêng tôi khi dùng danh từ đó thì chỉ cho nó một nghĩa hẹp, trỏ những hoạt động về tôn giáo, triết lý, giáo dục chính trị, văn học, triết học, nghệ thuật, khoa học.

“Trước nữa thì không có gì đáng kể, nhưng trong khoảng mười lăm năm nay [tức là 1954-1969 lúc ông Lê viết những dòng này], tư nhân chúng ta chịu hoạt động về văn hóa đấy. Trường trung học mọc rất nhiều, phẩm còn kém nhưng lượng đáng kể đấy chứ? Sách báo ra rất nhiều vì số học sinh mỗi ngày một tăng…”

Viên Linh

 

Be the first to comment

Leave a Reply