Người Mỹ chơi súng và chết vì súng

Trong bài viết hôm nay, tôi xin cùng quý vị xem xét vấn đề về kiểm soát vũ khí cá nhân tại Hoa Kỳ, dưới khía cạnh luật pháp, nhân quyền, và xã hội.
Vấn đề kiểm soát súng ống đã được Úc thực hiện thành công bởi cựu Thủ tướng John Howard, ngay sau khi vụ bắn giết tập thể do tay sát thủ Martin Bryant tiến hành tại Port Arthur, Tasmania ngày 28/04/1996.
Sau vụ bắn giết làm 35 người thiệt mạng này, ông John Howard, lợi dụng lúc tâm lý chống súng ống lên cao tại Úc, đã vận động quốc hội liên bang thông qua luật cấm vũ khí. Chính phủ đã bỏ tiền ra mua lại tất cả những loại vũ khí bị cấm mà người Úc đang giữ trong nhà. Trong thời hạn quy định mọi người giao nộp vũ khí sẽ được trả lại tiền tương đương giá trị của vũ khí và không bị truy tố hình sự.
Những vụ bắn giết liên tục bằng các loại súng tại Hoa Kỳ đã làm cả nước Mỹ đến lúc quá ngao ngán, và nhiều năm qua dư luận Hoa Kỳ đã có những vận động nhằm thực hiện việc kiểm soát súng ống tương tự như tại Úc. Tuy nhiên xem ra điều này khó trở thành hiện thực.
Căn cứ theo luật pháp Hoa Kỳ, thường được trích dẫn như Tu Chính Án thứ 2, thì quyền mang vũ khí của cá nhân các công dân Hoa Kỳ là quyền bất khả xâm phạm. Hiểu một cách đơn giản thì quyền được mang vũ khí của công dân Hoa Kỳ được xem là quyền tự vệ, tức là một quyền tự nhiên của con người, chứ không phải một quyền được xã hội công nhận.
Quyền tự nhiên như quyền được sống, khác với những quyền căn bản do xã hội công nhận như quyền bầu cử, quyền tự do ngôn luận… Khi đã công nhận quyền được tự vệ (bằng vũ khí) là một quyền tự nhiên, thì không có một chính phủ hay luật lệ nào có quyền tước quyền đó của công dân Hoa Kỳ.

Xuất phát từ lịch sử hình thành của nước Mỹ, quyền được giữ và mang vũ khí cá nhân trong người của các công dân Hoa Kỳ, được xem như một trong các biện pháp để bảo vệ nền dân chủ, nhân quyền, ngăn chận sự hình thành của các chính thể độc tài tại Hoa Kỳ.
Tiền thân của các lực lượng vũ trang của Hoa Kỳ là những đơn vị dân quân do công dân Hoa Kỳ tự thành lập, tự vũ trang, đứng lại với nhau dưới một lá cờ, chung một mục đích là dành độc lập từ Anh Quốc, và sau đó là giải quyết vấn đề sở hữu nô lệ trong cuộc Nội chiến Bắc Mỹ.
Từ đó các nhà lập pháp tại Hoa Kỳ có khuynh hướng tin rằng các lực lượng dân quân, bao gồm các công dân Hoa Kỳ tự nguyện tham gia, có quyền sử dụng vũ khí để bảo vệ nền dân chủ, bảo vệ liên bang Hoa Kỳ và không để cho bất cứ cá nhân nào có thể thực thi một chế độ độc tài trong toàn liên bang.
Trên cơ sở hai vấn đề mấu chốt nói trên, sỡ hữu vũ khí của công dân Hoa Kỳ được xem là quyền tự nhiên và công dân tự vũ trang được coi là biện pháp để bảo vệ nền dân chủ, ngăn chận việc thành lập các chính thể độc tài. Ngoài ra việc công dân tự vũ trang cũng có ý nghĩa là chính phủ liên bang phải e dè khi dùng quyền lực liên bang để khống chế các tiểu bang.

Cố Tổng thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln cũng tuyệt đối ủng hộ quyền tự vũ trang của công dân Hoa Kỳ. Xuất phát từ việc lý luận rằng một khi chỉ có chính quyền, quân đội của chính quyền, cảnh sát của chính quyền có vũ khí, thì lúc đó người dân không còn quyền để nói lên tiếng nói phản đối của họ, vì chính quyền sẽ dùng vũ khí để đàn áp và áp đặt ý muốn của chính quyền mà bỏ qua ý kiến của người dân.
Từ đó có thể hiểu được vì sao đa số người dân Hoa Kỳ rất coi trọng quyền sở hữu vũ khí, vì quyền đó đã được công nhận trong Hiến Pháp liên bang, được coi là quyền thiêng liêng như quyền được sống.
Nhưng xã hội Hoa Kỳ không dừng lại nguyên trạng của đất nước thời lập quốc. Việc lạm dụng quyền sử dụng vũ khí đã càng lúc càng trở nên nghiêm trọng, và việc dùng súng để bắn giết vô tội vạ tại Hoa Kỳ đã làm nhức đầu các nhà lập pháp, làm cả thế giới ngao ngán và là một sự sĩ nhục cho nhiều người Hoa Kỳ ủng hộ việc cấm sỡ hữu vũ khí.
Theo nhiều người Mỹ thì ba khái niệm chính bảo vệ dân chủ tự do của Hoa Kỳ như Quyền bầu cử – Quyền được xét xử bởi một bồi thẩm đoàn và Quyền sỡ hữu vũ khí đã lỗi thời, và hệ thống tư pháp của Hoa Kỳ nay đã đủ mạnh để bảo vệ nền dân chủ, và khái niệm dân quân vũ trang nên được bãi bỏ trong Hiến Pháp.

Trong khi những thanh thiếu niên Hoa Kỳ tại Parkland, Florida đang tổ chức tang lễ cho những bạn bè thiệt mạng trong vụ bắn giết mới nhất tại Hoa Kỳ, những thanh thiếu niên này cũng đang gióng lên sự phản đối đầy giận dữ đòi hỏi chính phủ liên bang phải giải quyết vấn đề kiểm soát súng ống tại Hoa Kỳ.
14 trẻ em và 3 người lớn đã bị bắn chết oan ức trong ngày 14/2/2018 tại trường Marjory Stonemand Douglas High School. Đây là vụ bắn giết bằng súng thứ 30 tại Hoa Kỳ trong năm nay.
Một lần nữa Tổng thống Donald Trump lại khẳng định rằng việc bắn giết này chẳng liên quan gì đến quyền sỡ hữu vũ khí của công dân, mà chỉ là vấn đề đừng để vũ khí rơi vào tay của những kẻ tâm thần. Một số người Hoa Kỳ khác tiếp tục cao giọng cho rằng để đối phó với những kẻ có vũ khí, cách tốt nhất là phải dùng vũ khí để chống lại, và thay vì van xin hay chạy trốn những kẻ có vũ khí thì cách tốt nhất là luôn có vũ khí trong người. Không may lý luận như thế này đang còn rất phổ biến trong tư duy của người Hoa Kỳ.

Tại đa số các quốc gia khác, người dân không có quyền sỡ hữu vũ khí. Nhưng điều đó không có nghĩa là người dân tại những nước này mất quyền tự vệ, và nền dân chủ hay nhân quyền của những quốc gia này bị đe dọa.
Tuy nhiên vấn đề quyền tự nhiên hay vũ trang người dân để chống khuynh hướng độc tài đã bị lợi dụng, đã bị đẩy đi quá xa, ngoài sự nhận thức của đại đa số người Hoa Kỳ, cho lợi nhuận về tài chính của các tập đoàn vũ khí Hoa Kỳ và Hội những người chơi súng Hoa Kỳ (NRA).
Ngay từ những ngày đầu lập quốc, chính phủ Hoa Kỳ đã đầu tư, khuyến khích ngành công nghiệp sản xuất vũ khí của họ nhằm giảm sự lệ thuộc vào vũ khí từ Châu Âu. Ngành công nghiệp vũ khí của Hoa Kỳ đã phát triển nhanh và mạnh qua tất cả những cuộc chiến tranh từ nội chiến đến những xung đột vũ trang khắp nơi trên thế giới.
Những công ty vũ khí của Hoa Kỳ đã luôn luôn nhận được những đơn đặt hàng cực kỳ lớn của chính phủ Hoa Kỳ, của quân đội, của cảnh sát tiểu bang và liên bang.
Khi những cuộc chiến tranh qua đi, những đơn đặt hàng vũ khi vơi đi, lợi nhuận giảm đi những công ty chế tạo vũ khí dĩ nhiên phải dựa vào khách hàng nội địa. Những vũ khí quân dụng khi không còn được sử dụng nữa cũng cần phải có nguồn tiêu thụ để mang lại lợi nhuận. Từ đó những công ty mua bán vũ khí như Schuyler, Hartley hay Graham đã vào cuộc và nhắm đến người dân Hoa Kỳ cũng như các khách hàng ngoại quốc để tiêu thụ những vũ khí hết hạn dùng của quân đội.

Công ty vũ khí Sig Sauer ở New Hampshire chính là nhà sản suất loại súng MCX đã được sử dụng trong vụ bắn giết tập thể ở câu lạc bộ Orlande Pulse. Gần đây nhất công ty này đã trúng thầu để cung cấp toàn bộ súng ngắn tiêu chuẩn cho quân đội Hoa Kỳ. Hợp đồng này trị giá ít nhất là 580 triệu đô la.
Giữa các công ty sản xuất vũ khí Hoa Kỳ diễn ra sự cạnh tranh ác liệt. Để có thể cạnh tranh hiệu quả, những kỹ sư của các công ty vũ khí luôn hướng đến việc cải tiến kỹ thuật để cho những vũ khí tân kỳ hơn. Trong bối cảnh hoàn toàn thiếu vắng những điều luật để kiểm soát những cải tiến vũ khí này, những vũ khí cải tiến liên tục được sản xuất, bán ra thị trường, và kết quả là những phòng cấp cứu tại các bệnh viện liên tục nhận được những nạn nhân với những thương tích cực kỳ khủng khiếp do những vũ khí tân kỳ gây ra.
Tại sao những điều luật chi phố việc sản xuất, cải tiến, quãng cáo và buôn bán vũ khí không có tại Hoa Kỳ. Câu hỏi này hướng tất cả về vai trò của NRA.
Trong thực tế mọi điều luật có liên quan đến vũ khí đều phải qua tay của NRA. Tổ chức này là một người đồng hành không thể thiếu được của ngành công nghiệp sản xuất vũ khí của Hoa Kỳ. NRA là một tổ chức đầy quyền lực, giàu có, đã tiến hành những vận động hành lang để tạo ra mọi điều kiện tốt nhất , dễ dàng nhất cho các công t y sản xuất vũ khí Hoa Kỳ, bảo đảm rằng vấn đề kiểm soát vũ khí tại Hoa Kỳ sẽ không bao giờ xảy ra như tại Úc.

NRA được thành lập năm 1871. Năm 1968 NRA đã vận động để đạo luật kiểm soát vũ khí của Tổng thống Lyndon Johnson không bao gồm việc cấp giấy sỡ hữu vũ khí và những điều kiện để đăng ký sỡ hữu súng. Năm 1989 NRA vận động trì hoãn đạo luật Brady Act bắt buộc kiểm tra lý lịch của những người mua vũ khí. Năm 1996 NRA đã vận động thành công chống lại quyết định của chính phủ liên bang về cấp kinh phí để điều tra việc sử dụng vũ khí và bạo lực xã hội của Hoa Kỳ. Năm 2000 NRA chấm dứt quan hệ đối tác với một công ty vũ khí, khi công ty này ủng hộ các biện pháp kiểm soát vũ khí của chính quyền Tổng thống Clinton. Năm 2005 NRA chiến thắng lần nữa trong việc giới hạn tối đa trách nhiệm của các công ty sản xuất súng với các nạn nhân của súng.
Quan trọng hơn cả, NRA đã thành công trong việc định hướng dư luận Hoa Kỳ rằng chính quyền liên bang Hoa Kỳ đang có âm mưu tước đoạt quyền sỡ hữu vũ khí của công dân Hoa Kỳ, có nghĩa là chính phủ Hoa Kỳ càng lúc càng có khuynh hướng độc tài. Sự định hướng dư luận tốt đến mức độ đa số người dân Hoa Kỳ càng lúc càng tin rằng để bảo vệ mình và gia đình mình khỏi chết vì súng, thi cần phải mua thêm súng và luôn có súng trong người.
Chính vì thế, trong khi một bộ phận người Mỹ tìm cách vận động việc kiểm soát súng, thì cứ sau mỗi vụ bắn giết bằng súng, các tiệm bán súng đạn là càng đông thêm khách. Đây là một hiện tượng, mà chúng ta, những người dân Úc không thể nào hiểu nổi.
Dù sao cũng có một tin khá tốt, là trong khi tôi đang viết những dòng này, thì tại Hoa Kỳ có tin là Tổng thống Donald Trump đã đồng ý rằng sẽ ban hành luật kiểm tra lý lịch của những người đăng ký mua súng và giữ súng.

Ls Lê Đức Minh

Be the first to comment

Leave a Reply