Người Úc không cần súng

Vụ nổ súng trong nhà thờ gần đây nhất tại Texas Hoa Kỳ làm cho cả thế giới ngao ngán hơn về cái văn hóa bạo lực súng ống tại Hoa Kỳ.

Tổng thống Donald Trump đã lên tiếng bào chữa cho hành động giết chóc này khi nói rằng súng không giết người, mà chỉ có kẻ điên khùng mới giết người. Nhưng nếu người điên khùng không có súng thì sao? Thì chắc chắc dù có điên khùng đến mức độ nào, một kẻ điên khùng cũng không có thể giết một lúc hàng chục người nếu không có súng trong tay.

Nói như tổng thống Donald Trump, thì kẻ phạm tội chính là hệ thống pháp luật tại Hoa Kỳ đã tạo điều kiện dễ dàng cho những kẻ điên khùng sở hữu vũ khí giết người. Nhiều người Úc đã nói rằng điểm khác biệt căn bản giữa xã hội Úc và xã hội Hoa Kỳ đó là nước Úc không có cái văn hóa bạo lực, không có cái nhu cầu sở hữu vũ khí một cách bệnh hoạn như ở Mỹ.

Chỉ vài ngày sau vụ nổ súng tại Las Vegas, thủ tướng Úc Malcolm  Turnbull cho biết trong vòng 3 tháng, người Úc đã giao nộp lại cho chính phủ 51 ngàn súng ống các loại. Đây là thời gian người sở hữu súng hợp pháp hay bất hợp pháp có thể giao nộp súng lại cho chính phủ mà không bị truy tố tội danh gì.

Trong chương trình  Q&A trên truyền hình Úc gần đây, khi được hỏi về vấn đề vũ khí tại Úc, cựu phó thủ tướng Tim Fischer đã trích dẫn thống kê của Christine và Andrew Leigh trong giai đoạn 2008 đến 2010 và một thống kê khác với kết luận rằng một người có khả năng bị bắn chết vì súng tại Hoa Kỳ cao gấp 15 lần so với một người sống tại Úc. Tất nhiên tỷ lệ nảy tính bình quân theo tỷ lệ dân số.

Diana Melham một giám đốc điều hành của Hội súng săn thể thao của Úc, chi nhánh New South Wales đã nói với ông Fischer rằng liệu chính sách kiểm tra súng gắt gao của Úc có khiến xã hội Úc trở nên an toàn hơn hay k hông kể từ sau vụ thảm sát bằng súng tại Port Arthur của tiểu bang Tasmania.

Theo Melham thì các nghiên cứu đều chỉ ra rằng các cuộc thu gom súng của chính phủ từ năm 1996 đến năm 2003 đều không mang lại bất cứ kết quả nào trong việc giảm tỷ lệ chết vì súng tại Úc.

Trong khi đó ông Tim Fischer lại khẳng định rằng con số người chết vì súng tại Úc đã giảm đi rõ rệt. Vậy thực tế, các nghiên cứu về chính sách hạn chế vũ khí tại Úc đã chỉ ra điều gì?

Được biết Melham đã trích dẫn nghiên cứu của Wang Sheng Lee và Sandy Suardi cho thấy việc thu hồi súng ống tại Úc đã không có tác dụng gì to lớn trong việc làm giảm đi con số nạn nhân chết hay bị thương vì súng.

Ông Tim Fischer đã nói đúng khi trả lời rằng con số người chết vì súng tại Australia giảm đi thấy rõ, từ khi ông Howard ban hành chính sách hạn chế tối đa súng ống tại Úc từ năm 1996 và các đợt thu hồi súng đến năm 2003.

Trong 20 năm thực hiện chính sách kiểm tra chặt chẽ việc sở hữu súng, tỷ lệ chết vì súng tại Australia đã giảm từ 2.9% trong năm 1996 đến 0.9% trogn năm 2016. Tỷ lệ này tính trên bình quân 100 ngàn người dân.

Ngay tại đây đã có những kết quả trái ngược của những người nghiên cứu khác nhau. Những người này đã tiến hành  nghiên cứu bằng những phương pháp khác nhau. Và trong khi một số nhà  nghiên cứu khẳng  định chẳng có kết quả gì ráo, thì nhiều nhà nghiên cứu khác lại kết luận là có kết quả rõ ràng.

Tuy nhiên có một điều không ai có thể chối cãi là trước vụ thảm sát Port Arthur , trong giai đoạn 15 năm trước vụ thảm sát Port Arthur, chỉ có 13 vụ thảm sát tập thể bằng súng tại Úc.

Từ sau vụ thảm sát Port Arthur đến nay, tại Australia chưa hề có bất cứ vụ thảm sát tập thể nào bằng súng xảy ra.

Từ năm 1981 đến năm 1996 trong 13 vụ thảm sát bằng súng có tổng cộng 104 người chết, 52 người bị thương. Riêng trong vụ Port Arthur, có đến 35 người bị bắn chết.

12 ngày sau vụ thảm sát Port Arthur, thủ tướng John Howard nhân cơ hội đó đã ban hành luật hạn chế gắt gao việc sở hữu súng tại Australia. Những biện pháp này bao gồm hạn chế súng trường tự động và bán tự động, hạn chế shotgun, đòi hỏi những yêu cầu khắt khe hơn khi xin đăng ký sỡ hữu súng, và những đòi hỏi khắt khe hơn trong việc cất giữ vũ khí trong nhà.

Tiếp đó là chương trình chính phủ thu mua lại những vũ khí bị cấm với kết quả là hơn 640 khẩu súng đã được giao nộp  lại cho chính phủ. Năm 2002 những biện pháp cải cách được ban hành trên phạm vị toàn quốc, chú trọng vào việc kiểm soát thị trường chợ đen mua bán súng ống, và hạn chế việc sử dụng súng ngắn. Năm 2003 một đợt thu mua súng khác của chính phủ được ban hành.

Theo thống kê của quốc hội liên bang thì từ các cuộc thu mua súng trong năm 1996 và 2003 đã ngốn mất của ngân sách 628 triệu đô la. Con số này ít hơn con số 700 triệu do Melham nêu lên.

Hãy nghiên cứu những con số của sở thống kê liên bang về số người chết vì súng trước và sau vụ thảm sát Port Arthur.

Tỷ lệ 2.9% và 0.9% dĩ nhiên chứng minh rằng tỷ lệ người chết vì súng tại Úc đã giảm rõ rệt.  Nhưng Melham lý luận rằng tỷ lệ hạ giảm này đã có từ trước vụ thảm sát Port Arthur. Những con số t hống kê mà Melham nêu ra cho thấy tỷ lệ này giảm từ 5 /100,000 đến chỉ còn 2.7/100,000.

Cho nên nếu chỉ dựa vào những con số thống kê mà Tim Fischer và Melham đưa ra, thì khó có thể dẫn đến một kết luận có tính thuyết phục.

Một số nhà nghiên cứu khác đặt ra câu hỏi liệu tỷ lệ giảm số người chết vì súng tại Australia giảm nhanh hay giảm chậm trước vào sau vụ thảm sát Port Arthur?

Một nghiên cứu trong năm 2006 cho thấy tỷ kệ chết vì dùng súng tự sát tại Australia giảm rõ từ năm 1997 đến năm 2004 so với những năm trước vụ thảm sát Port Arthur. Kết luận này cho thấy có thể việc chính phủ thu mua lại súng đã k hiến con số này giảm. Nhưng con số giết người dùng súng lại không hề giam so với trước khi có chính sách hạn chế súng ống tối đa tại Úc.

Nghiên cứu năm 2016 lại cho thấy con số tự tự dùng súng giảm mạnh trong giai đoạn từ 1997 đến 2013. Nhưng đồng thời người ta cũng thấy có sự giảm rõ rệt những vụ tự tử không dùng súng trong cùng giai đoạn. Do đó những nhà phân tích cho rằng khó có thể nói chắc 100% là việc thu mua súng của chính phủ có thực sự làm giảm số nạn nhân chết vì súng tại Australia trong cùng giai đoạn hay k hông.

Tại Victoria cải cách về  hạn chế súng ống có từ năm 1988, tức là 8 năm trước khi các tiểu bang khác có chính sách hạn chế vũ khí. Việc này xảy ra sau khi có hai vụ thảm sát tập thể bằng súng tại tiểu bang Victoria. Vũ khí bị hạn c hế là các loại vũ khí bán tự động như súng trường bán tự động.Nhưng tại tiểu bang này lại không có việc thu mua lại súng như vào năm 1996 trên phạm vi toàn liên bang.

Nghiên cứu năm 2004 cho thấy có tỷ lệ giảm rõ ràng số người chết vì súng tại Victoria so với toàn quốc từ 1988 đến 1995. Sau năm 1996 tỷ lệ này có thể nhìn thấy tại hầu hết các tiểu bang trên toàn nước Úc.

Các tác giả nghiên cứu cho rằng việc hạ giảm tỷ lệ nạn nhân chết vì súng là do việc cải cách quy định đăng ký sở hữu súng chặt chẻ trên  phạm vi toàn liên bang.

So sánh tỷ lệ giao nạp vũ khí trên toàn quốc thì tại Tasmania có tỷ lệ cao nhất so với toàn quốc. Ông Tim Fischer đã liên hệ một nghiên cứu xuất bạn năm 2010 chot hấy tỷ lệ chết vì súng trong hai giai đoạn 1990-1995 và 1998-2003.

Theo nghiên cứu này thì đã có một sự sụt giảm đáng kể con số người chết vì súng. Con số này càng thấp khi tỷ lệ giao nạp súng càng cao. Đồng thời cũng có sự hạ giảm  số nạn nhân tự tử bằng súng.

Các tác giả kết luận rằng càng khó mó tay đến súng thì tỷ lệ chết vì súng càng giảm.

Nhưng các tác giả cũng đồng thời lưu ý rằng thật khó khăn để chỉ ra rằng biện pháp kiểm soát súng nào là hiệu nghiệm nhất, và các nghiên cứu cần phải phối hợp với nổ lực thu hồi súng và việc tăng cường các biện pháp hạn chế đăng ký sở hữu súng.

Như thế một điều rõ ràng là sau hai đợt thu hồi súng 1996 và 2003 thì tỷ lệ tử vong bằng súng tại Australia giảm rõ, bao gồm tỷ lệ tự tử vì súng và giết người bằng súng. Nhưng câu hỏi đặt ra là liệu cái gì là nguyên nhân đích thực của việc hạ giảm này?

Có thể là việc hạ giảm có liên quan đến những nguyên nhân chẳng dính dáng gì đến việc thu hồi súng hay việc đăng ký sở hữu khó khăn hơn. Nhưng lại không hề có những nghiên cứu cụ thể về vấn đề này.

Nhưng ai cũng thấy rõ một vấn đề là trong 15 năm trước vụ thảm sát Port  Arthur nước Úc có 15 vụ thảm sát tập thể bằng súng kh iến 104 người chết và 52 bị thương. Trong khi đó, 21 năm sau vụ thảm sát Port Arthur, nước Úc cho đến nay không hề có thêm bất cứ vụ thảm sát tập thể nào bằng súng.

Cần biết rằng súng là nguyên nhân hàng đầu gây ra những cái chết của công dân Mỹ bất luận trong lứa tuổi nào, kể cả trẻ em. Theo khoa trưởng khoa Y tế cộng đồng của đại học Boston là Sandro Galea thì trong khi bạo lực súng ống là một trong những nguyên nhân gây chết chóc và thương tật, vì nguyên  nhân này đã không được nghiên cứu đúng đắn như những nguyên nhân gây chết chóc, thương tật như tai nạn giao thông hay ung thư…

Theo vị khoa trưởng này thì quốc hội Hoa Kỳ đã cấm việc tiến hành nguyên cứu về bạo lực vũ khí trong y tế cộng đồng vào năm 1996. Được biết người Mỹ thường nói rằng súng không có giết người, chỉ có những thằng điên cầm súng mới giết người. Tuy nhiên lý luận này đã bị nhiều người khác lên án.

Vấn đề sở  hữu vũ khí là một trong những vấn đề  được nêu lên trong Hiến Pháp của Hoa Kỳ và là một trong những vấn đề cấm kỵ của Hoa Kỳ nơi mà đại đa số người dân cho rằng người dân Hoa Kỳ có quyền sở hữu vũ khí để tự vệ, để bảo vệ gia đình và cũng để bảo vệ nền dân chủ tại Hoa Kỳ.

Quốc hội Hoa Kỳ nghiêm cấm bất cứ nghiên cứu nào có thể dẫn đến việc hạn chế sở hữu vũ khí, hay làm cho việc sở hữu vũ khí khó khăn hơn.

Sau vụ thảm sát Port Arthur nước Úc quyết định cấm súng trường tự động và bán tự động, cấm shotgun, thành lập văn phòng đăng ký súng toàn liên bang và mua lại toàn bộ vũ khí bị cấm trong dân chúng. Australia cũng đã loại bỏ lý do tự vệ như là một trong các lý do nhằm đăng ký sở hữu vũ khí và việc mua bán vũ khí trên mạng đã trở thành bất hợp pháp.

Theo chuyên gia về sức khỏe cộng đồng của đại học Sydney thì các biện pháp trên của Australia đã thực sự có hiệu quả.

Tuy nhiên nhiều chuyên gia đang lên tiếng cảnh sát những nguy cơ mới tại Úc. Lý do là sau hơn hai thập niên kiểm soát vũ khí, người Úc có một ngộ nhận rằng nước Úc nay đã an toàn hơn, không còn lo ngại gì về việc sở hữu súng ống nữa. Thực tế việc sở hữu súng ngắn cũng có thể dẫn đến những vụ thảm sát tập thể bằng súng, chứ không cần gì phải súng trường tự động hay bán tự động.

Tại Anh, chính phủ cũng đã hạn chết việc sở hữu súng từ năm 1996 sau khi một người đàn ông nổ súng giết chết 16 trẻ em và giáo viên tại trường tiểu học Dunblane, Scotland. Anh cũng đã mua lại súng bất hợp pháp và súng bị cấm.

Kết quả là tỷ lệ chết người vì súng đã hạ giảm quan trọng tại Anh. Nhưng theo bà Helen Williamson của đại học Brighton thì nhu cầu về súng ống không bao giờ hạ giảm.

Những người ham mê súng ống và tội phạm vẫn luôn luôn tìm những nguồn cung cấp súng, vẫn tìm mọi cách để sở hữu súng thông qua các biện pháp đăng ký được nới lõng. Thậm chí nhiều người đã tìm cách chế tạo súng từ các nguồn cung cấp trên internet. Với những phương tiện kỹ thuật hiện nay, việc chế tạo một khẩu súng có khả năng giết người không phải là việc khó khăn.

Vấn đề chính là phải có biện pháp kiểm tra hiệu quả việc đăng ký, việc sở  hữu súng và các biện pháp trừng phạt nếu vi phạm.

Ls Lê Đức Minh

Be the first to comment

Leave a Reply