Nguyễn Văn Bến Nghé!

 Tui rất thích cái tựa “Nguyễn Thị Sài Gòn”, tên một bài hát của nhạc sĩ nổi tiếng đấu tranh Việt Dzũng.

Nhưng ‘Thị’ là chữ lót của một người đàn bà, con gái; còn tui là đàn ông, con trai, tất chữ lót phải là Văn; nên tui tự đặt tên mình là: “Nguyễn Văn Bến Nghé”.

Hai cái tên nầy chỉ đối nhau chan chát giữa ‘Thị’ và ‘Văn’. Còn cái họ Nguyễn, người Việt mình nhiều vô số kể; nên mấy em Úc tóc vàng mỏ đỏ ở Melbourne nầy đây muốn dụ dỗ tui, bao giờ cũng gọi tui là “Mít-tờ (Mister) Nguyen!”

Còn Sài Gòn và Bến Nghé (là cái bến mà người ta thường cho trâu, bò ra tắm) chỉ là một mà thôi!

***

Sài đọc theo âm Prei, tiếng Khmer, nghĩa là rừng. Gòn là bông gòn. Như vậy Sài Gòn là Rừng cây bông gòn.

Ông bà mình hồi xưa từ miền Trung vào miền Nam khẩn hoang, thấy có nhiều loại cây hơn chỗ khác thì lấy tên loại cây đó đặt tên cho vùng đất mới.

Chính vì vậy mình mới có các địa danh dễ thương như: Gò Cây Mai, Gò Sao, Gò Cây Quéo và Gò Vấp…

Cây Da (miền Bắc gọi là Cây Đa) nổi tiếng với địa danh Cây Da Xà.

đường Da Bà Bầu… (Cây Da có nhà bà tên Bầu; chớ hỏng phải da của bà đang mang bầu đâu nhe!) gần nhà ông Trường Kỳ nhạc trẻ…

Xưa, phải đi làm ăn xa quê, lâu lâu về lại, đang đi trên đường đê… mà thấy cây da cao vút tầng mây là mình biết sắp về tới bến ‘đê mê’, sắp gặp má bầy trẻ đang tựa cửa ngóng chàng về; nên đi riết… về để giúp má bầy trẻ thêm một đứa trẻ nữa! Hi hi!

Rồi Cây Điệp, Cây Gõ, Cây Vông… đến Chợ Vườn Chuối, Chợ Rẫy, Chợ Đệm, Chợ Cây Điệp…

Kinh rạch cũng mang tên các loài cây như: Rạch Bàng, Rạch Chiếc hay Hóc Môn (Rạch nước nhỏ có cây môn nước) hoặc Mười tám thôn Vườn Trầu; suối Lồ Ô (bà con với cây tre, cây trúc)

Rồi Củ Chi tức cây Mã Tiền! Đến Củ Chi (nói lái lại) hỏi củ chi? Làm mấy em Củ Chi, mặt thì ửng hồng mà nước miếng nhễu đầy cằm mới chết!

***

Nhà thơ Bùi Giáng có câu: “Hỏi rằng: người ở quê đâu? Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà!”

Mình đang ở Sài Gòn mà có người hỏi quê đâu? Trả lời ‘cọp dê’ theo ông Bùi Giáng thì là tui dân Sài Gòn chánh cống nè cha Nội!

Sanh đẻ ở đây, lớn lên ở đây, mèo chuột gái gú ở đây, bị em yêu bắt làm tù binh, cũng ở đây! Rồi ăn nhậu, tụ bè tụ đảng cũng ở đây thì hỏi quê đâu là sao hè?

Tui cũng ở Sài Gòn khá lâu đó chớ, dù không liên tục nhưng gộp lại trước sau dẫu đứt khúc cũng khoảng 10 năm.

Vậy mà hai thằng bạn nhậu nghe tui gáy te te là dân Sài Gòn mà quận Nhứt nữa; tụi nó cứ cười khằng khặc:“Ông chỉ là dân ở trọ đất Sài Gòn. Còn hai thằng tui là sanh đẻ ở Tân Định nè, là dân Sài Gòn chánh gốc, có trích lục thế vì khai sanh đàng hoàng do Chánh lục bộ của Tòa án cấp!”

Tuy nhiên hỏi phăng ngược lên đời trước nữa thì một đứa có ‘Thầy U’ đi tàu há mồm từ Bắc vào Nam; đứa còn lại có ‘Ba Mạ’ từ Huế, xứ thần kinh, bám xe lửa xuyên Việt vào tới Sài Gòn những năm 40.

Chính vì vậy mà hồi năm 1963, học Đệ thất ở Petrus Ký, bạn cùng lớp tui không thấy thằng nào vỗ ngực xưng tên là ‘Made in Sài Gòn’ vì đứa nào cũng là dân tứ xứ.

Nhưng đến Sài Gòn là yêu Sài Gòn hè! Như ông nhạc sĩ Y Vân, sanh đẻ tại Hà Nội, vào Nam năm 1952, cũng khoái; nên la làng lên rằng: “Sài Gòn đẹp lắm! Sài Gòn ơi!” La xong còn nhảy ‘twist’ nữa mới đã!

Rồi nhà thơ Nguyên Sa, cũng người Hà Nội, vào Nam rồi cũng cảm nắng Sài Gòn.

“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát/ Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

…Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết/ Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu”

Vâng nắng Sài Gòn kinh lắm nhứt là vào đầu mùa Hạ, tháng Sáu, tháng Bảy.

Nhưng được cái là: nắng sớm mưa chiều!

Mới nắng đó rồi bất ngờ Trời đế cho một trận mưa rào, ào ào ướt áo em yêu, ướt hết ráo cái áo dài của em may bằng vải Tetoron trắng mỏng dính.

Nên mưa Sài Gòn, (không phải tui tửng tửng với thời tiết gì đâu), mưa là tui che dù, mặc áo mưa dù đang ở trong nhà tạnh ráo, tui cũng rán bò ra đường dòm; chắc bà con mình đã biết tại làm sao?

Rồi sau nầy mất nước làm thân lưu lạc, phiêu bạt quê người tới tận Melbourne nầy đây tui vẫn tự nhận mình là người Sài Gòn hè!

Nghĩa là Sài Gòn dẫu xa muôn trùng vẫn còn tận cùng sâu thẳm trong trái tim tui.

Mà nó đâu có chịu nằm im, cứ nhúc nhích hoài, gợi nhớ… nhứt là mỗi độ tháng Tư về.

Do đó khi ông Trịnh Công Sơn hỏi em yêu của ổng là: “Em còn nhớ hay em đã quên?” (Thì tui thấy hỏi vậy là thừa!)

Ông nhạc sĩ nầy sợ em quên, nên nhắc nhỏ em là: “Nhớ Sài gòn mưa rồi chợt nắng/ Nhớ phố xưa quen biết tên bàn chân? Nhớ đèn đường từng đêm thao thức…

…Nhớ đường dài qua cầu lại nối/ Nhớ những con sông nối hai dòng kênh / Nhớ ngựa thồ ngoại ô xa vắng… …Nhớ Sài gòn những chiều gặp gỡ/ Nhớ món ăn quen nhớ ly chè thơm/ Nhớ bạn bè chào nhau quen tiếng/ Phố em qua gạch ngói quen tên…  Nhớ Sài gòn những chiều lộng gió/ Lá hát như mưa suốt con đường đi!”

Đêm nay, tay cầm ly rượu đỏ, nghe Khánh Ly hát cũng bùi ngùi quá mạng; vì nghe thiên hạ xầm xì nhạc sĩ và ca sĩ nầy hồi xưa là ‘ní’ với nhau.

Tuy nhiên đang bùi ngùi thương nhớ Sài Gòn thì nhạc của ổng bổng chuyển ‘ton’ một cách lảng xẹt hè: “Em ra đi nơi này vẫn thế/ Lá vẫn xanh trên con đường nhỏ

Vườn xưa vẫn có tiếng Mẹ ru/ Có tiếng em thơ/ Có chút nắng trong, tiếng gà trưa Em ra đi nơi này vẫn thế… Thành phố vẫn có những ước mơ/ Vẫn sống thiết tha/ Vẫn lấp lánh hoa trên đường đi”

Sao nổi quạu bất tử vậy ông Thầy? Đang dịu dàng hỏi: “Có nhớ Sài Gòn không? Nhớ cái nầy cái nọ thì đàn đứt ngang cung, nổi khùng lên: “Em đi thì kệ em chớ! Sài Gòn vẫn thế; còn ngon hơn ngày hỏng có em!”

Tới đây là tui không đồng ý với ông nhạc sĩ (gió chiều nào che chiều đó) rồi đó nhe!

Một là Sài Gòn là thủ đô chớ không thành phố (?!)… gì ráo. Hai là: Bên cạnh một Sài Gòn hoa lệ với nhà cao tầng, trang phục hàng hiệu, xe cộ sang trọng là một Sài Gòn lam lũ, nhọc nhằn của người dân lao động.

Giữa cái nắng 40 độ của tháng 6, tháng 7, đường không bóng cây là những gánh nặng trĩu trịt hai vai của người bán hàng rong, của trẻ ăn xin, bán vé số, vất vả dãi nắng dầm mưa với hy vọng tối nay đi ngủ không phải với cái bụng đói meo!

Tui đi đã mấy chục năm mà chưa trở lại Sài Gòn; nhưng có nghe người ta về rồi trở qua nói Sài Gòn giờ là một rừng bê tông, cao ốc… Vì CS muốn Sài Gòn giống hịt Singapore.

Úy trời đất ơi! Học cái hay thì học. Học cái ngu thì học làm gì.

Lý Quang Diệu xây cái Singapore trên một làng chài hoang vắng. Còn Sài Gòn có một kiến trúc tuyệt vời đâu phải ai cũng có, người ta thèm muốn chết mà không có được… Sao chơi ngu cứ đập và đập? (Chắc đập mới có đất mà bán mới có cái mà ăn?)

Thế là: viện lý do quy hoạch như hạch; bèn chặt dãy cây dọc đại lộ Nguyễn Huệ, và mới đây là chặt hàng cổ thụ trên đường Cường Để, đốn ngã hàng cây cao trước Quốc Hội ngày xưa…

Thực dân Pháp dẫu xâm chiếm nước ta cũng không đến mức ngu xuẩn và tàn nhẫn như vậy! Năm 1862, sau khi chiếm Sài Gòn – Gia Định, Kiến trúc sư Pháp đã thiết kế Sài Gòn là một thành phố Vườn, một Paris nhiệt đới, đẹp dến nỗi năm 1925, nhà văn Anh Horace Bleackley, trong du ký Viễn Đông đã gọi Sài Gòn là “Paris trong rừng” (Paris in the jungle).

Vì Sài Gòn có Sở Thú, có công viên Tao Đàn, Vườn Ông Thượng, hay Vườn Bờ Rô cũng nó đó đa! (Giữa vườn có một sân gạch, nên dân Sài Gòn gọi là Vườn Bờ Rô – préau tiếng Pháp nghĩa là “sân lót gạch”).

Thân phụ tui là một người rất thương con cũng như những người thân phụ khác.

Tía tui rất thích chụp hình. Hồi xưa Chủ Nhựt, Tía dắt Má và đám con đi Sở Thú coi khỉ hay đi vườn Bờ Rô chụp hình….

Sau nầy xa quê, anh em tui xúm lại làm đám giỗ Tía Má, đem những cái hình xưa cũ còn giữ trong album ra coi.

“Nè cái hình nầy là Má bồng thằng Phương. Tao với anh Nhiên mặc quần sọt mang giày săng đan, đầu chải bảy ba. Còn con Phượng, (em gái kế tui). thì mặc áo đầm tóc quăn (uốn tóc), thoa son môi của Má; vì Ba muốn làm đẹp cho đứa con gái của mình.

Còn thằng Quân trong hình, sao mầy lại khóc?” Thì thằng em tui cười khè khè nói: “Tại lúc đó tui khát nước… mía! He he!”

Rồi hình khác, em gái tui mới lên 2, 3 tuổi; ba đặt ngồi giữa một hàng cây bùm sụm kiểng trong vườn Bờ Rô để chụp hình.

Ai cũng biết là năm 1868, Tây cất Dinh Norodom cho Thống đốc Nam Kỳ.

Rồi “Vườn Ông Thượng” phía sau Dinh cho tay thực dân cỡ bự nhứt có chỗ mà hóng mát. Chớ bên Tây khí hậu ôn đới mà qua Sài Gòn trấn nhậm, khí hậu nhiệt đới nóng chảy mỡ… Không có vườn cây cho mát… là quan lớn chết chắc!

Dân mình có thói quen gọi quan lớn nhưng không rõ chức lớn cỡ nào gọi ông Thượng cho nó chắc ăn. Nên vườn của quan lớn dân gọi là “Vườn Ông Thượng” là

Mãi tới 1955, Chừng nào đá nổi, rong chìm! Voi đi trên giấy, Tây về nhà Tây thì Vườn Ông Thượng được chánh phủ VNCH mình đổi tên là Vườn Tao Đàn.

***

Nhớ Sài Gòn! Nhớ Bến Nghé! Nhớ nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã đem cái địa danh Bến Nghé nầy vào bài thơ ‘Chạy Giặc’ rất hay như vầy: “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây/ Một bàn cờ thế phút sa tay? Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy/ Mất ổ đàn chim dáo dát bay/ Bến Nghé của tiền tan bọt nước/ Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây…”

Và tui cũng tự hỏi Sài Gòn, Bến Nghé bị CS làm cho tanh bành tí bị như thế nầy mà: “Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng/ Nỡ để dân đen mắc nạn này?”

đoàn xuân thu.

melbourne

 

 

 

 

Be the first to comment

Leave a Reply