Phụ nữ và khí hậu thay đổi

Khí hậu thay đổi là một hiện tượng khó chối cãi. Bão lụt, hạn hán, cháy rừng và những đợt nóng kéo dài tại nhiều nơi trên thế giới đã tạo ra nhiều thiệt hại về đủ mọi phương diện cho con người. Trong số những nạn nhân phải gánh chịu nhiều thiệt hại nhất, nữ giới là số đông.

Một cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng vào khoảng năm 2050, số người tỵ nạn vì những hậu quả của khí hậu thay đổi trên khắp thế giới có thể lên đến 150 triệu người, trong số này 80 phần trăm sẽ là phụ nữ và trẻ con. Phụ nữ ở những vùng nông thôn của Nam bán cầu như Phi Châu, Á Châu, Châu Mỹ La Tinh và các vùng Á Rập sẽ là những người bị thiệt thòi nhiều nhất vì hạn hán, đói kém và thời tiết khắc nghiệt.

Theo một bản phúc trình của Liên Hiệp Quốc, có đến 80 phần trăm những người phải di tản vì khí hậu thay đổi là phụ nữ. Vì đóng vai trò “nội trợ” và ngay cả cần câu cơm của gia đình, người phụ nữ dễ bị tổn thương hơn đàn ông khi xảy ra lụt lội và hạn hán. Tại rất nhiều nước nghèo, phụ nữ phải gánh lấy trách nhiệm sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái, nhất là trong những cộng đồng vẫn còn lệ thuộc vào nông nghiệp. Tại những nước lệ thuộc vào nông nghiệp, 80 phần trăm lực lượng lao động là phụ nữ.  Trong những nền kinh tế còn lệ thuộc vào nông nghiệp và thời tiết, người phụ nữ lại thường ít được hưởng những cơ may và phương tiện sống như đàn ông. Họ ít được học hành, ít được hưởng chăm sóc y tế, ít được hưởng các tài nguyên, vật lực và tiền bạc cũng như ngay cả các quyền căn bản của con người. Thị trường lao động thường cũng không được mở rộng cho phụ nữ. Tình trạng bất bình đẳng nam nữ tại nhiều nước cũng khiến phụ nữ không có được tiếng nói trong xã hội và ngay cả những chính sách có liên quan đến họ. Chính vì bị đẩy ra bên lề xã hội mà người phụ nữ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc đối phó với những thiên tai do khí hậu thay đổi tạo ra.

Khi dịch bệnh Zika xảy ra tại một số nước Châu Mỹ La Tinh chẳng hạn, phụ nữ và trẻ em là những người phải hứng chịu nhiều hơn ai hết những tác hại của khí hậu thay đổi. Nói chung, tại những nước nghèo, khi xảy ra dịch bệnh hay thiên tai, đàn ông vẫn luôn được ưu tiên  tiếp cứu hoặc được chăm sóc kỹ hơn cũng như được bảo đảm về lương thực và tài chính hơn. Đây là trường hợp điển hình tại Bangladesh vào năm 1991 khi quốc gia này phải trải qua một trận bão làm cho 140.000 người bị thiệt mạng: có đến 90 phần trăm nạn nhân là phụ nữ!

Thỏa ước Paris 2015 về việc giảm bớt khí thải để đối phó với hiện tượng trái đất hâm nóng và khí hậu thay đồi, được hầu như mọi quốc gia trên thế giới ký kết, đã nhìn nhận rằng phụ nữ là những người phải gánh chịu nhiểu hậu quả nhất của hiện tượng khí hậu thay đổi.

Nhìn qua một số nước nghèo trên thế giới, người ta mới thấy rõ những hậu quả của hiện tượng khí hậu thay đổi mà nữ giới phải gánh chịu. Chẳng hạn như tại miền Trung của lục địa Phi Châu, nơi có đến 90 phần trăm Hồ Chad đã biến mất vì hạn hán, các nhóm dân sống bằng du mục bị đe dọa nhiều nhất. Khi mực nước hồ ngày càng thấp, nguồn nước ngày càng hiếm, người phụ nữ phải đi bộ rất xa để kiếm nước. Có trên 60 phần trăm các gia đình tại vùng Hạ Sahara Phi Châu tùy thuộc vào người phụ nữ để tìm ra nguồn nước, kín nước và mang nước về cho gia đình. Khí hậu thay đồi, nạn phá rừng và hiện tượng sa mạc hóa khiến cho việc đi tìm nguồn nước ngày càng trở nên khó khăn hơn. Người phụ nữ lại phải mất nhiều thì giờ hơn để tìm nước, kín nước và mang nước về cho gia đình.

Hindou Oumarou Ibrahim, người đang điều hợp Hiệp hội Phụ nữ và Dân Chad, đã giải thích với phóng viên của Đài BBC: “Trong mùa khô, đàn ông đi xuống phố…bỏ mặc cho đàn bà phải trông nom cộng đồng”. Mùa khô càng dài thì phụ nữ càng phải làm việc cật lực hơn để nuôi sống và chăm sóc gia đình mà không được một sự trợ giúp nào. Ông Ibrahim nói: “Phụ nữ là những người dễ bị tổn thương…Họ phải làm việc quá cực nhọc”.

Nhưng không chỉ phụ nữ tại vùng nông thôn mới gánh chịu những hậu quả của hiện tượng khí hậu thay đổi. Nhìn chung, trên khắp thế giới, ngay cả tại những nước giàu có, ở đâu phụ nữ cũng dễ lâm vào cảnh nghèo đói và ít có cơ hội để vươn lên về mặt kinh tế và xã hội như đàn ông. Mỗi khi thiên tai xảy ra, hạ tầng cơ sở bị hư hỏng, công ăn việc làm ít hơn và nhà cửa bị hư hại, tình trạng của người phụ nữ lại càng thê thảm hơn.

Trong đợt nóng tại Âu Châu năm 2003, người ta tính số nạn nhân nữ giới vẫn cao hơn đàn ông. Năm 2005, khi cơn bão Katrina tàn phá thành phố New Orleans, Tiểu bang Louisana, Hoa Kỳ, những người phụ nữ gốc Phi Châu là thành phần phải gánh chịu nhiều thiệt thòi nhất. Bà Jacquelyn Litt, giáo sư về Giới tính và Phụ nữ học tại Đại học Rutgers cho biết: “Tại New Orleans, trước khi bão Katrina xảy ra, tỷ lệ nghèo của người Mỹ gốc Phi Châu đã rất cao. Hơn phân nửa những gia đình nghèo trong thành phố là những gia đình của những bà mẹ đơn chiếc. Họ nhờ vào các tổ chức độc lập của cộng đồng để sống qua ngày. Cơn bão Katrina đã làm suy yếu những tổ chức độc lập ấy khiến cho nhiều người phải di tản. Phụ nữ và trẻ em là những người gặp nhiều rủi ro hơn ai hết”.

Liền sau những thiên tai như thế, các trung tâm tạm cư đã được thiết lập, nhưng lại không được trang bị đầy đủ để nâng đỡ các phụ nữ. Sân vận động thể thao Superdome tại thành phố New Orleans vốn có một sức chứa rất lớn. Nhưng sau cơn bão Katrina, sân vận động này không những không thể chứa hết những người di tản mà cũng không có đủ những phương tiện vệ sinh cho các phụ nữ.

Không những không được chăm sóc đầy đủ, những người phụ nữ di tản còn phải đối phó với nạn bạo hành, tấn công tình dục và ngay cả hãm hiếp.

Số phận của người phụ nữ tại những vùng nông thôn của Úc Đại Lợi cũng không khá hơn. Tình trạng hạn hán lâu dài luôn tạo ra nhiều vấn đề cho các nông gia và gia đình của họ. Áp lực lại càng đè nặng hơn trên người phụ nữ khi họ phải đưa vai gánh vác cả gia đình không những về mặt vật chất mà còn cả về tinh thần và tâm lý nữa.

Khí hậu thay đổi có thể là một hiện tượng tự nhiên, nhưng lại do con người góp phần làm  cho hiện tượng này thêm nhanh hơn và trầm trọng hơn và khí hậu thay đổi ảnh hưởng ít hay nhiều đến cuộc sống con người là cũng do những cơ cấu xã hội của con người. Thiên tai do đó không tác hại đồng đều đến mọi người. Người giàu ít bị thiệt hại hơn người nghèo và đàn ông cũng ít bị tổn thương hơn đàn bà.

Sau trận sóng thần xảy ra tại Á Châu hồi năm 2004, một bản phúc trình của Tổ chức Từ thiện Oxfam của Anh Quốc ghi nhận rằng tại ba nước Sri Lanka, Nam Dương và Ấn Độ, số người đàn ông sống sót cao hơn đàn bà 3.1 phần trăm. Theo một cuộc nghiên cứu được Trường Kinh tế thuộc Đại học London, Anh Quốc thực hiện hồi năm 2007, thiên tai lúc nào cũng sát hại nhiều phụ nữ hơn đàn ông. Trung bình số phụ nữ bị thiệt mạng trong thiên tại cao gặp năm lần đàn ông. Tỷ lệ này càng cao hơn tại những nơi phụ nữ bị thiệt thòi về kinh tế và xã hội hơn đàn ông. Nhìn chung, phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi về kinh tế hơn đàn ông và cuối cùng không có đủ phương tiện để thoát khỏi hoặc thích nghi với những hậu quả của khí hậu thay đổi. Người ta không biết rõ nguyên nhân tại sao có sự chênh lệch về tử xuất giữa đàn ông và đàn bà khi xảy ra thiên tai. Tuy nhiên nhìn chung tại những nước bị sóng thần, đàn ông thường có khả năng bơi lội hơn đàn bà và trong khi đàn ông tìm cách tẩu thoát thì đàn bà lại phải ở lại để trông nom con cái và người thân trong gia đình.

Một cuộc nghiên cứu khác được thực hiện trong suốt 25 năm cũng ghi nhận rằng thiên tai rút ngắn tuổi thọ của đàn bà hơn của đàn ông. Khi xảy ra thiên tai, số phụ nữ bị thiệt mạng nhiều hơn đàn ông và họ cũng chết trẻ hơn đàn ông. Ở những nước mà phụ nữ có nhiều sức mạnh hơn về mặt kinh tế và xã hội, sự khác biệt này được giảm sút rất nhiều.

Một khi đã nhận ra sự thiệt thòi mà người phụ nữ phải gánh chịu vì thiên tai do khí hậu thay đổi tạo ra, các chính phủ và các tổ chức hoạt động để đối phó với hiện tượng khí hậu thay đổi, ngày càng quan tâm đến tiếng nói của người phụ nữ trong việc soạn thảo kế hoạch và chính sách.

Liên Hiệp Quốc đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải quan tâm đến giới tính trong việc đối phó với khí hậu thay đổi. Tuy nhiên, cho tới nay số phụ nữ có mặt trong các tổ chức hoạt động để đối phó với khí hậu thay đổi vẫn chưa tới 30 phần trăm.

Ở cấp địa phương, tỷ lệ này còn thấp hơn. Bà Diana Liverman, một nhà khoa học chuyên về môi sinh giải thích rằng “phụ nữ thường ít tham gia vào những quyết định đối phó với khí hậu thay đổi, do đó tiền bạc rốt cục lại vào túi đàn ông hơn là đàn bà”.

Số phụ nữ chiếm đến nửa dân số thế giới. Lẽ ra họ phải có một tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc đối phó với khí hậu thay đổi. Hơn nữa, theo ông Hindou Oumarou Ibrahim, đối phó với  “khí hậu thay đổi không phải là chuyện tranh giành quyền lực, mà là chiến đấu để sống còn”. Và dĩ nhiên, trong thế giới ngày nay, nhất là tại những nước nghèo hay đang phát triển, không ai phải tranh đấu để sống còn cho bằng phụ nữ.

Theo một bản phúc trình của Liên Hiệp Quốc về Phụ nữ (UN Women Watch), mặc dù là nạn nhân phải gánh chịu nhiều thiệt thòi và tổn thương nhất trong các thiên tai do khí hậu thay đổi tạo ra, phụ nữ lại chính là những người mang lại niềm hy vọng lớn lao nhất cho nhân loại.

Bản phúc trình của Liên Hiệp Quốc về Phụ nữ nhấn mạnh rằng  phụ nữ thường có nhiều hiểu biết và kinh nghiệm có thể được sử dụng để tìm ra những chiến thuật hữu hiệu hầu thích nghi và đối phó với khí hậu thay đổi. Hơn nữa vì trách nhiệm của họ trong gia đình và cộng đồng, người phụ nữ có thể góp phần vào việc đề ra những chiến thuật giúp đối phó với khí hậu thay đổi.

Đoàn Thi

(theo:

-https://www.bbc.com/news/science-environment-

-https://www.1millionwomen.com.au/blog/why-climate-change-worse-women-and-how-we-can-make-it-better/

-https://www.greenpeace.org.au/blog/female-focus-women-impacted-climate-change/)

Be the first to comment

Leave a Reply