Tại sao người Việt không thể liên kết?

43 năm đã trôi qua từ khi biến cố 30/4/1975, một thời gian đủ dài để đánh dấu một thế hệ mới trưởng thành tại hải ngoại. Một câu hỏi quan trọng là người Việt đã học được tinh thần liên kết hoặc “làm việc đồng đội’’ (team work) của người bản xứ hay chưa, đặc biệt là trong sinh hoạt đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam.

Trong thập niên 80 khi người Việt tỵ nạn mới chân ướt chân ráo tới định cư tại Úc, cộng đồng người Úc gốc châu Âu chẳng hạn như Ý, Hy Lạp và Nam Tư lúc đó cũng đã định cư tại Úc trên 4 thập niên sau Đệ Nhị Thế Chiến. Nhưng họ đã có những tập đoàn luật sư và kế toán gia hùng hậu. Lớn thì có tới hàng chục thành viên và nhỏ hơn thì là vài thành viên. Họ hiểu được và tận dụng nguyên lý kinh tế vi mô. Nhờ vậy mà họ dễ dàng tạo được sức mạnh và hội nhập một cách thành công và hiệu quả. Ngày nay, những người di dân đó đang nắm các vai trò lãnh đạo trong chính quyền, hệ thống tư pháp, hành chánh, giáo dục cũng như truyền thông. Khoảng cách giữa họ với người Úc gốc Việt ngày càng cách xa.

Trong khi đó, tuyệt đại đa số chuyên gia và thương gia gốc Việt vẫn còn là hình thức đơn thương hoặc trong phạm vi gia đình. Văn hóa làng xã, tiểu nông cố hữu vẫn chưa thoát khỏi tư duy của người Việt ly hương mà còn muốn di truyền xuống các thế hệ nối tiếp.

Một điều không thể chối cãi là để thực hiện bất cứ công việc nào hiệu quả thì phải cần có ít nhất 4 điều kiện đó là: tổ chức, lãnh đạo, nhân sự và tài chánh. Trong 4 yếu tố này thì cái đầu tiên – tổ chức là quan trọng nhất. Vì phải có tổ chức thì mới đẻ ra được lãnh đạo rồi từ đó vận động nhân sự và tài chánh. Hay nói một cách khác, câu hỏi đặt ra không phải là cái gì mà làm sao thực hiện được nó hiệu quả nhất mới là quan trọng.

Một vấn đề mà có đông người Việt hải ngoại chia sẻ là làm sao để giúp biến Việt Nam từ một chế độ độc tài chuyên chế cộng sản thành một quốc gia dân chủ, đa đảng, đa nguyên và tam quyền phân lập. Khi chúng ta ngồi xuống thảo luận những công tác cần phải là thì có rất người đưa nhiều ý kiến khác nhau về những công tác nên làm nhưng chúng ta thường không đặt câu hỏi làm sao xây dựng tổ chức để thực hiện những công tác cần thiết đó. Ai cũng có thể liệt kê một danh sách rất dài những việc nên làm nhưng làm sao để có người và tiền để thực hiện những công tác đó thật mới là quan trọng. Dân chủ và tam quyền phân lập có thể là những lý tưởng trừu tượng nhưng phương pháp phải thực tế và cụ thể thì mới có hiệu quả. Bằng không thì chỉ là nói suông cho vui miệng.

Thật ra, trong lịch sử đấu tranh tại hải ngoại thì có một vài sự kiện đáng ghi nhận khi có nhiều người Việt quyết định kết nối để thành lập tổ chức. Đáng kể nhất là khi 3 tổ chức là Tổ Chức Người Việt Tự Do, Phục Hưng và Lực Lượng Quân Dân Việt Nam sáp nhập và thành lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam vào ngày 30/4/1980. Theo lời kể của Học Giả Đỗ Thông Minh trong bài “Niên Biểu Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam”, Mặt Trận tổ chức một loạt Đại Hội Đồng Tâm vào năm 1983 tại Anaheim Convention Centre, Nam Cali với trên 8,000 người tham dự. Mặt Trận mở chiến khu và xây dựng lực lượng với khoảng 240 kháng chiến quân. Sau các chiến dịch Đông Tiến I vào năm 1985 và Đông Tiến II vào năm 1987, hầu hết toàn bộ chỉ huy bị tử thương và Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh bị trọng thương và tự sát. Tổng kết, có hơn 100 trong tổng số 240 kháng chiến quân đã hy sinh. Số còn lại bị bắt và ở tù với những bản án dài hạn. Vào năm 2004, Mặt Trận giải thể và công khai hóa Đảng Việt Tân. Ước lượng có khoảng 800 đảng viên Việt Tân sinh hoạt khắp nên trên toàn thế giới và hiện đang là tổ chức đấu tranh lớn nhất của người Việt. Có điều đáng tiếc là có một số thành viên trong cộng đồng nhìn Đảng Việt Tân với một ánh mắt nghi kỵ vì những lý do khác nhau. Nhưng lại không trực tiếp đối thoại để giải tỏa khúc mắc. Xem ra chính sách “3 không” không chỉ áp dụng riêng cho Đảng CSVN mà ngay cả trong nội bộ cộng đồng người Việt tại hải ngoại.

Sự kiện thứ hai diễn ra vào năm 1995 khi Hội Nghị Liên Kết Người Việt Tự Do lần thứ nhất được tổ chức tại Hoa Thịnh Đốn quy tụ 10 tổ chức đấu tranh và cộng đồng gồm có Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ, Liên Minh Việt Nam Tự Do, Hội Đồng Việt Nam Tự Do, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, Liên Minh Quang Phục Việt Nam, Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu và các cộng đồng tại Mỹ, Nhật và Hòa Lan. Nhưng sau Hội Nghị lần thứ tư diễn ra vào năm 2000 thì không thấy có sinh hoạt gì khác.

Tới năm 2008, một vài thành viên đại diện cho một số đoàn thể đứng ra tổ chức Hội Nghị Liên Kết Đấu Tranh Tự Do Cho Việt Nam. Nhưng rồi Ban Tổ Chức cũng chỉ ra “Quyết Nghị Và Tuyên Bố Giải Thể Chế Độ Độc Tài CSVN, Thiết Lập Thể Chế Tự Do Dân Chủ tại Việt Nam”. Có nghĩa là Ban Tổ Chức cho biết ý muốn nhưng không cho biết làm cách nào để thực hiện được ý muốn đó.

Tới tháng 10 năm 2015, Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Hoa Kỳ mở Hội Nghị Liên Kết Người Việt Quốc Gia Hải ngoại. Hội Nghị thành lập 2 ủy ban là Ủy Ban Vận Động Liên Kết Ban Liên Lạc và Phối Hợp. Trong bài “Vấn đề ‘Liên Kết Người Việt Hải Ngoại’”, Bs Nguyễn Quyền Tài (một thành viên của Ban Liên Lạc và Phối Hợp) ghi nhận là sau 40 năm ly hương, mọi nỗ lực liên kết người Việt hải ngoại hầu như chỉ chuốc lấy thất bại và khiến cho nhiều người tin rằng việc xây dựng tổ chức và tinh thần đoàn kết giữa người Việt hải ngoại là không còn khả thi nữa. Nói một cách khác, cộng sản đâu cần tốn công đánh phá gây chia rẽ vì chính người Việt hải ngoại đã tự gây chia rẽ rồi. Để rồi câu nói “người Việt luôn chia rẽ” trở thành chân lý di truyền xuống các thế hệ trẻ Việt Nam tại hải ngoại trong mọi lãnh vực sinh hoạt kinh doanh, xã hội và chính trị.

Tại sao người Việt lại nặng đầu óc chia rẽ? Có nhiều lý do nhưng tựu chung là do thái độ nghi kỵ quá mức. Có nghĩa là không tin hoặc không thích cá nhân hoặc đoàn thể khác. Đa số không phải là vị mục tiêu trái nghịch nhưng vì bất đồng quan điểm về phương pháp đấu tranh. Thông thường là mang tính cá nhân. Có nghĩa là vì do không thích ông A, bà B hoặc hội C nào đó. Nhiều lúc không làm mà còn dèm pha hoặc đánh phá. Người Việt hải ngoại đã bị cộng sản lường gạt quá nhiều đến nỗi cái ảm ảnh sợ hãi bị gạt đó vẫn theo đuổi cho tới bây giờ. Thậm chí có người lập luận một cách ngớ ngẩn rằng những nhà đấu tranh trong nước bị tù đày đều là cuội. Đó là họ dùng khổ nhục kế hòng tạo uy tín với người Việt hải ngoại.

Một số hình thức sinh hoạt không trong sáng hoặc nhập nhằng của một vài tổ chức chính trị làm tăng thêm môi trường đầy nghi kỵ trong sinh hoạt đấu tranh. Chúng ta vẫn thường nghe những lời to nhỏ ví dụ như “ông/bà A này là đảng viên ngầm của Đảng B” hoặc “nhóm X này là do tổ chức Y dựng ra”…Cứ thế mà không ai có thể thoát ra được cái vòng luẩn quẩn.

Trong thời đại internet hiện nay, hiện tượng “fake news” không chỉ ảnh hưởng riêng tới cộng đồng người Việt mà cả thế giới. Phát biểu “loạng quoạng” là có thể bị chụp cho cái mũ “thân cộng” hoặc “hòa hợp hòa giải”. Những hình thức ngôn từ này quá dễ dàng thoát ra khỏi miệng ngay cả của một vài người đóng vai trò lãnh đạo.

Thứ hai là thái độ đố kỵ. Có thể là cá nhân hoặc đoàn thể mình không làm được việc nhưng không muốn nhìn thấy cá nhân hoặc đoàn thể khác có khả năng hơn được nổi bật, nhất là khi mình đã không thích họ. Cái ‘tôi’ quá lớn làm ‘tập thể’ trở thành bé nhỏ.

Nói chung, người Việt chúng ta khó liên kết với nhau vì những lý do mang tính “hết sức con người” mà trong đó, thẳng thắn mà nói, tâm lý nhỏ mọn đóng một vai trò quá lớn. Nói như vậy không phải là để bày tỏ một thái độ chê bai hoặc quan điểm tiêu cực mà là một gợi ý để tất cả mọi người chúng ta thẳng thắn nhìn nhận những khiếm khuyết về mặt văn hóa hoặc thói quen (đúng ra là những cái tật) để khắc phục. Làm việc đồng đội là một sinh hoạt tiêu biểu nhất của sinh hoạt dân chủ. Nếu chúng ta không làm được một điều căn bản nhất của sinh hoạt dân chủ thì làm sao có thể hô hào tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam?

Dĩ nhiên là người Việt chúng ta không có “độc quyền” sở hữu thói quen nghị kỵ và đố kỵ. Chắc chắn là trong đời sống và văn hóa của người Tây Phương không thiếu những món này. Nhưng họ đã vượt qua được những rào cản tâm lý cá nhân bằng cách xây dựng cơ chế và tổ chức với điều lệ và quy định nghiêm minh. Do đó, nếu người Việt hải ngoại thật sự muốn góp phần tranh đấu có hiệu quả thì chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận khiếm khuyết và học hỏi từ người tây phương văn hóa và phương pháp xây dựng tổ chức. Hay nói một cách khác, việc đầu tiên là phải ghi nhận mình có bệnh và chấp nhận đi tìm thuốc giải.

Ls Nguyễn Văn Thân
4/4/2018

Be the first to comment

Leave a Reply