Tây Tạng: 60 năm tỵ nạn tại Ấn Độ

Kể từ ngày thứ Bảy 31 tháng Ba vừa qua, người Tây Tạng tại Ấn Độ đã khởi sự một năm gọi là “Cám Ơn Ấn Độ” để đánh dấu 60 năm tỵ nạn tại Ấn Độ và bày tỏ lòng tri ân đối với chính phủ và nhân dân nước này.

Năm 1949, Đảng Cộng Sản cướp chính quyền tại Trung Hoa Lục Địa. Sau khi thu tóm quyền lực trong tay , Mao Trạch Đông tuyên bố rằng Tây Tạng là một phần của lãnh thổ Trung Hoa và nhân dân Tây Tạng đang kêu gào để được “giải phóng” khỏi các đế quốc và khỏi “chế độ phong kiến phản động” tại Lhasa. Ngày 7 tháng Mười năm 1950, khoảng 40.000 bộ đội thuộc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Cộng đã vượt qua thượng lưu sông Dương Tử, tràn vào miền đông Tây Tạng và chiếm Thành phố Chamdo. Hơn phân nửa của một quân đội chỉ có khoảng 10.000 binh sĩ  của Tây Tạng đã bị Trung Cộng bắt làm tù binh. Khi tiến vào Thủ đô Lhasa, bộ đội Trung Cộng đã giương hình lãnh tụ Mao Trạch Đông lên cao và gọi đây là một cuộc “giải phóng ôn hòa”.

Vào thời đó, Tây Tạng còn là một nước nghèo và cô lập. Tuổi thọ của người dân chỉ có khoảng 36 năm. Chỉ có 5 phần trăm dân số biết đọc biết viết. 95 phần trăm còn lại đều phải sống kiếp nô lệ cha truyền con nối. Tham nhũng và tội ác là hai thứ tệ nạn hầu như không có thuốc chữa. Không có hệ thống trường học, ngân hàng và tiền tệ. Người dân vẫn còn giao dịch bằng sự trao đổi nông sản và thực phẩm. Giai cấp quý tộc trong các tu viện sống nhờ vào lao động và thuế của các nông dân nghèo. Giai cấp thống trị luôn sử dụng bạo động để khước từ mọi cuộc cải cách.

Tuy nhiên, dù Tây Tạng là một nước nghèo và bị cô lập, người dân vẫn luôn ý thức rằng đất nước họ là một quốc gia độc lập. Đứng trước cuộc xâm lăng tàn bạo của Trung Cộng, Chính phủ Tây Tạng liền đưa một thiếu niên mới 16 tuổi vào vị trí lãnh đạo của quốc gia. Người thiếu niên này chính là Đức Đạt Lai Lạt Ma, Bang thiền Lạt Ma thứ 14. Dân chúng Tây Tạng tuôn ra các ngã đường để ăn mừng. Nhưng mặc cho dân chúng Tây Tạng có vui mừng nhảy múa và mặc cho Liên Hiệp Quốc có lên tiếng phản đối, Trung Cộng vẫn tiến hành cuộc xâm lăng của họ.

Nhớ lại biến cố này, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết trên tạp chí Time: “Tôi còn rất trẻ khi lần đầu tiên nghe nói đến hai chữ “cộng sản”…Một số vị sư đang dạy kèm cho tôi…đã nói đến sự hủy diệt sau khi người Cộng Sản xâm chiếm Mông Cổ. Chúng tôi không biết gì về ý thức hệ Mar xít. Nhưng tất cả chúng tôi đều lo sợ trước sự hủy diệt và đều khiếp hãi khi nghĩ đến Cộng Sản”.

Sau khi được đưa lên cầm quyền tại Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã được mời sang Trung Cộng để học hỏi về chủ nghĩa Mác xít. Nhà lãnh đạo trẻ rất cảm kích trước những cải tổ tại Trung Hoa. Ngài còn làm thơ để ca ngợi Chủ tịch Mao Trạch Đông. Vị Phật sống chia sẻ: “Chỉ khi được đến Trung Hoa trong hai năm 1954 và 1955 tôi mới thực sự nghiên cứu về ý thức hệ Mác xít và tìm hiểu về cuộc cách mạng ở Trung Hoa. Một khi đã hiểu được chủ nghĩa Mác xít, tôi đã hoàn toàn thay đổi thái độ. Tôi bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa Mác xít đến độ đã bày tỏ mong ước được trở thành một đảng viên Cộng Sản”.

Trong suốt thập niên 1950, mặc dù bị đặt dưới sự cai trị của Trung Cộng, phần lớn người Tây Tạng vẫn còn có chút tự do để kinh doanh và Đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn tiếp tục sống tại Thủ đô Lhasa. Trung Cộng đã thực hiện một số cải tổ tích cực như xây dựng đường sá, trường học, bệnh viện cũng như để cho người Tây Tạng được tự do thực hành đạo và sống theo tập tục của họ. Tuy nhiên, dần dà Trung Cộng đã thò cánh tay đế quốc của họ ra. Họ sáp nhập hai vùng Kham và Amdo của Tây Tạng vào hai tỉnh của họ là Tứ Xuyên và Thanh Hải. Các tu viện bắt đầu bị cướp bóc và đất đai của giới quý tộc Tây Tạng bị tịch thu.

Sau chuyến đi Bắc Kinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma, tình hình trở nên tồi tệ hơn. Mao Trạch Đông đã không ngần ngại nói thẳng với nhà lãnh đạo Tây Tạng rằng “tôn giáo là thuốc độc”. Đây là tiếng súng lệnh để người Cộng Sản tàn phá các tu viện. Hàng ngàn nhà sư và ni cô bị bứng ra khỏi các tu viện. Người Cộng Sản ngày càng để lộ móng vuốt thô bạo của họ.

Năm 1956, trước sự áp bức của Trung Cộng, người dân tại vùng Kham, miền Đông Tây Tạng, đã nổi dậy. Trong hai năm sau đó, cuộc nổi dậy có vũ trang đã lan rộng  đến miền Trung Tây Tạng và nhiều cuộc biểu tình đã diển ra tại Thủ đô Lhasa.

Nhưng biến cố chính trong cuộc nổi dậy của Tây Tạng chỉ thực sự xảy ra vào dịp Năm Mới 1959 của Tây Tạng. Có tin cho biết Đức Đạt Lai Lạt Ma được chính quyền Trung Cộng mời tham dự một buổi trình diễn của một đoàn ca múa của họ. Ngài sẽ tham dự buổi trình diễn văn nghệ mà không có các vệ binh hộ tống. Dân chúng cho rằng Trung Cộng dàn dựng chuyện này để bắt cóc Ngài, cho nên đã kéo nhau đến trước dinh thự mùa hè Norbulinka của Ngài và cương quyết bảo vệ Ngài cho đến cùng. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tuyên bố sẽ không đến tham dự buổi trình diễn. Chính quyền Trung Cộng liền hủy bỏ thỏa hiệp đã được ký kết với Tây Tạng theo đó nước này được tiếp tục hưởng quyền tự trị. Không muốn thấy bạo động và đổ máu, Đức Đạt Lat Lạt Ma đã tình nguyện đến nạp mình. Nhưng Trung Cộng lại cho nã trọng pháo vào dinh thự mùa hè của Ngài.

Ngày 10 tháng Ba năm 1959, Đức Đạt Lai Lạt Ma lại được chính quyền Trung Cộng mời viếng thăm một căn cứ quân sự của họ. Sợ đây có thể là một âm mưu để bắt cóc Ngài, một đám đông lên tới 30.000 người đã tập trung trước dinh thự mùa hè, làm thành một biển người để bảo vệ Ngài. Hai ngày sau, một đám đông gồm khoảng 5.000 người phụ nữ Tây Tạng đã tuần hành qua các đường phố thủ đô. Họ mang theo những biểu ngữ có nội dụng đòi hỏi “Tây Tạng là của người Tây Tạng” và hô lớn khẩu hiệu “Kể từ hôm nay, Tây Tạng là một nước độc lập”. Trung Cộng đưa lính tới bao vây dinh thự, đồng thời cho nã trọng pháo vào dinh thự. Chính thái độ khiêu khích hung hãn này của Trung Cộng đã khiến Đức Đạt Lai Lạt Ma quyết định bỏ nước ra đi. Trong đêm 17 tháng Ba, Ngài đã cải trang thành một binh sĩ và cùng với 52 tu sĩ khác cũng cải trang thành binh sĩ trốn ra khỏi dinh thự mùa hè. Bằng nhiều phương tiện khác nhau và sau nhiều ngày gian khổ, Ngài đã đặt chân đến Ấn Độ ngày 31 tháng Ba năm 1959. Ba ngày sau, Thủ tướng Nehru của Ấn Độ tuyên bố trước Quốc Hội rằng Chính phủ Ấn đã dành cho Đức Đạt Lai Lạt Ma quyền tỵ nạn.

Cùng một lúc với Ngài và sau đó, có khoảng trên dưới 100.000 người Tây Tạng cũng đã trốn khỏi đất nước để xin tỵ nạn tại Ấn Độ. Một trại tỵ nạn lớn đã được thành lập tại Darjeling, gần Dharamsala, nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma đặt trụ sở cho chính phủ lưu vong của Ngài. Phần lớn người Tây Tạng đã xin tỵ nạn tại Ấn Độ. Một số khác xin đến Nepal hay một số nước Tây Phương.

Hai ngày sau khi Đức Đạt Lai Lạt Ma trốn thoát, Trung Cộng cho đóng cửa Chính phủ Tây Tạng, xâm chiếm đất đai và bắn phá dinh Potala cũng như đóng cửa tất cả mọi tu viện. Hàng ngàn tu sĩ bị bắt giam tù và đày vào các trại lao động khổ sai. Sau khi Tây Tạng hoàn toàn rơi vào tay mình, Mao Trạch Đông tuyên bố: “Chỉ nội trong 3 tháng nữa, họ sẽ tin vào chủ nghĩa Cộng sản”.

Trong 60 năm qua, Ấn Độ không ngừng xem Đức Đạt Lai Lạt Ma là “người khách được tôn quý nhất của Ấn Độ”. Nhưng với Trung Cộng, vị Phật sống này chỉ là “một con sói đội lốt nhà tu”. Quốc gia cộng sản khổng lồ này không ngừng tố cáo ngài  lãnh đạo “các hoạt động ly khai và chống phá Trung Quốc dưới chiếc áo của tôn giáo với mục đích tách lìa Tây Tạng khỏi Trung Quốc”.

Do áp lực của Trung Cộng chăng, gần đây Ấn Độ xem ra đã không còn tỏ ra mặn mà với Tây Tạng và Đức Đạt Lai Lạt Ma nữa. Đầu tháng Ba vừa qua, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ đã lên tiếng khuyến cáo Chính phủ Ấn không nên tham dự các cuộc lễ do những người Tây Tạng lưu vong tổ chức để đánh dấu 60 năm tỵ nạn tại Ấn Độ. Bộ Ngoại giao Ấn Độ cho rằng các cuộc lễ do cộng đồng Tây Tạng tỵ nạn tổ chức diễn ra “trong một bối cảnh rất “nhạy cảm” của mối bang giao giữa Ấn Độ và Tây Tạng”.

Lúc đầu, Chính phủ Lưu vong Tây Tạng định tổ chức một buổi lễ tưởng niệm tại Thủ đô New Delhi trong đó Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ đến đọc diễn văn. Nhưng trước khuyến cáo của Bộ Ngoại giao Ấn Độ, các buổi lễ của người Tây Tạng chỉ diễn ra tại Dharamsala là nơi có trụ sở của Chính phủ Lưu vong Tây Tạng. Dù vậy, Quốc hội Lưu vong Tây Tạng và ban tổ chức các cuộc lễ đánh dấu 60 năm tỵ nạn không đưa ra lý do nào để giải thích tại sao các buổi lễ không được cử hành tại thủ đô Ấn Độ.

Theo các số thống kê mới nhất của Chính phủ Lưu vong Tây Tạng, hiện có trên 128.000 người Tây Tạng đang sống ở nước ngoài. Trong số này có 94.000 người đang tỵ nạn tại Ấn Độ. Khoảng 10.6 phần trăm sống tại Nepal. Phần còn lại sống rải rác tại hơn 30 quốc gia trên thế giới.

Kể từ năm 1974, Đức Đạt Lai Lạt Ma tuyên bố rằng ngài không hề đòi hỏi độc lập cho xứ sở, mà chỉ xin cho Tây Tạng được hưởng một nền “tự trị có ý nghĩa” qua đó Tây Tạng được bảo tồn văn hóa và di sản của mình.

Ấn Độ vẫn luôn giữ lập trường theo đó người Tây Tạng tại Ấn Độ không được “hoạt động chính trị trên đất Ấn Độ”.

Các bản tuyên cáo mới đây của Trung Cộng và Ấn Độ cho thấy chính phủ hai nước có đông dân số nhất thế giới này đang muốn hàn gắn các mối quan hệ sau một năm đầy sóng gió.

Hồi năm ngoái, quân đội của hai nước đã đối mặt nhau trong nhiều tháng trời tại Doklam là một địa điểm nằm dọc theo biên giới của 2 nước, dưới chân dãy Hi Mã Lạp Sơn và gần Bhutan.

Tháng Năm năm ngoái, Ấn Độ đã tẩy chay một cuộc họp thượng đỉnh do Trung Cộng tổ chức tại Bắc Kinh để giới thiệu sáng kiến “Nhất Đới Nhất Lộ” của họ. Ngoài ra, hồi tháng Hai vừa qua,  chuyến viếng thăm của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Tỉnh bang Arunachal Pradesh, đông bắc Ấn Độ, mà Trung Cộng luôn xem là lãnh thổ của họ, cũng đã tạo ra nhiều căng thẳng ngoại giao giữa Bắc Kinh và New Delhi.

Nay thì xem ra hai quốc gia khổng lồ này muốn cải thiện mối bang giao giữa hai bên. Trong một cuộc họp báo hồi tháng trước, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Cộng, ông Vương Nghị cho biết lãnh đạo của hai nước “đã mở ra một cái nhìn chiến lược về tương lai của mối quan hệ của chúng ta: “Con rồng” Trung Quốc và “Con voi” Ấn Độ không nên đánh nhau, mà phải cùng nhảy múa với nhau”.

Với thiện chí muốn cải thiện mối quan hệ giữa hai bên, tháng Hai vừa qua, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ, ông Vijay Gokkhale đã sang Bắc Kinh. Ông nói rằng hai bên đã ghi nhận nhu cầu “phải giải quyết những khác biệt dựa trên sự tương kính và nhạy cảm đối với các mối quan tâm, quyền lợi và khát vọng của hai nước”.

Theo dự trù, tháng Sáu tới đây, Thủ tướng Ấn Narendra Modi và Chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Cộng sẽ gặp nhau bên lề Hội nghị Thượng đỉnh về Hợp tác tại Thượng Hải.

Dù cho quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Cộng có xoay chiều đổi hướng như thế nào đi nữa, Ấn Độ vẫn là một nước dân chủ. Và dù cho tình thế có biến đổi đến đâu, một thực tế mà lịch sử thế giới không thể chối cãi được là: Trung Cộng đã ngang nhiên xâm chiếm một quốc gia độc lập là Tây Tạng và người dân Tây Tạng cùng với nhà lãnh đạo tinh thần của mình là Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tỵ nạn tại Ấn Độ từ 60 năm nay.

Đoàn Thi

(nguồn:

-https://www.historytoday.com/richard-cavendish/chinese-invade-tibet.

-https://edition.cnn.com/2018/03/30/asia/india-tibet-china-dalai-lama )

Be the first to comment

Leave a Reply