Thực và Đạo

Tôi “yêu” Úc Đại Lợi, quê hương thứ hai của tôi. Đi đâu rồi nhìn lại, tôi vẫn thấy “quê hương” của mình là nhứt. Ăn cây nào rào cây nấy. Có thể tôi chủ quan. Nhưng mới đây, khi tạp chí Economist của Anh công bố danh sách của 10 thành phố đáng sống (livable) nhứt trên thế giới, tôi thấy mình có đủ lý do để tự hào về đất nước mình đã chọn làm quê hương thứ hai. Trong 10 thành phố đáng sống nhứt này, Melbourne đứng hàng thứ 2, Sydney đứng hàng thứ 5 và Adelaide đứng hàng thứ 10. Với dân số vừa mới bước vào ngưỡng cửa 25 triệu dân cách đây một tháng, Úc không phải là một nước lớn. Còn nếu lấy tổng sản lượng quốc gia ra để “đấu” với những người khổng lồ như Hoa Kỳ hay Trung Cộng, Úc chỉ là một cậu bé tí hon. Vậy mà đất nước này năm nào cũng có nhiều thành phố lọt vào danh sách 10 thành phố đáng sống nhứt. Công dân Úc không có lý do gì để không tự hào về đất nước của mình.

Nhìn sang người anh em của Úc trong khối Thịnh vượng chung là Gia Nã Đại, tôi tin chắc là người dân ở đó cũng phải có cùng một niềm tự hào như tôi. Trong danh sách 10 thành phố đáng sống nhứt theo sự bầu chọn của tạp chí Economist, Gia Nã Đại cũng có tới 3 thành phố: Calgary được xếp tới hàng thứ 4, Vancouver hàng thứ 6 và Toronto hàng thứ 7.

Tôi đã đến Toronto. Còn Vancouver, tôi chỉ mới nghe người Việt tỵ nạn ở Gia Nã Đại quảng cáo. Riêng Calgary, dạo tháng Bảy vừa qua, tôi đã “mục sở thị”. Trong gần một tuần lễ ở chơi với ông bạn nối khố từ lúc thiếu thời, tôi  đã được đưa đi thăm thú một vòng thành phố và những vùng ngoại ô của thành phố này. Nếu không có mùa đông hơi khắc nghiệt đối với lớp da thiếu mỡ của một người Á Châu như tôi thì quả thật Calgary là một thành phố đáng sống nhứt theo những tiêu chuẩn được tạp chí Economist chỉ ra như văn hóa, hạ tầng cơ sở, bảo hiểm y tế, tội ác và xung đột, giáo dục…Riêng ông bạn của tôi dường như muốn cho tôi thấy một khía cạnh khác của Calgary. Một hôm ông chở vợ chồng tôi đi dọc theo một con sông bao quanh thành phố. Khi đến gần trung tâm thành phố, ông chỉ vào một tòa nhà khá khang trang. Khang trang đến độ một số người Việt tỵ nạn từ xa đến tưởng đó là một khách sạn, định vô mướn phòng. Nhưng bạn tôi giải thích: đó là một trung tâm dành cho người vô gia cư (homeless). Thành phố Calgary là một nơi đáng sống là phải bởi vì ngay cả người vô gia cư cũng có nơi ăn chốn ở như mọi người!

Không hiểu sao hình ảnh của “khách sạn” dành cho người vô gia cư ở thành phố Calgary cứ đeo đuổi tôi suốt cả tuần khi tôi đến thăm gia đình cô em gái ở Orange County, Tiểu bang California,  tiểu bang giàu nhứt nước Mỹ với nền kinh tế đứng hàng thứ 5 trên thế giới. Trong tiểu bang này, thành phố Los Angeles phải được xem là biểu tượng của sự thịnh vượng và danh tiếng về mọi mặt của nước Mỹ.

Trong gần một tuần lễ ở đó, tôi đã  đi và đến phi trường Los 4, 5 lần. Và lần nào, từ thủ đô người Việt tỵ nạn tại Orange County cũng phải mất khoảng một tiếng đồng hồ để đi trên xa lộ xuyên bang 405 chạy ngang qua phi trường. Hệ thống xa lộ là biểu tượng của sự giàu có của Hoa Kỳ. Một tên nhà quê đến từ “Miệt Dưới” như tôi chỉ biết há mồm để trầm trồ ngưỡng mộ sự vĩ đại của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Mỗi bên xa lộ có đến 5,7 “len”, “len” nào cũng “nêm” cứng xe cộ.

Có lẽ không quen với cảnh giàu sang và náo nhiệt của quốc gia vĩ đại và giàu có nhứt hành tinh này chăng, có lúc tôi thấy ngộp thở. Ngộp thở vì nhìn hai bên xa lộ chỉ thấy bức tường chắn tiếng động mà tuyệt nhiên không có bất cứ màu xanh nào của cây rừng hay công viên. Ngộp thở vì nhìn đâu cũng chỉ thấy nhà máy, cơ xưởng và trung tâm thương mại. Nhưng ngộp thở nhứt với tôi có lẽ là bầu trời xám xịt bao phủ 24/24 thành phố Los và ngay cả những vùng phụ cận. Có lúc tôi tưởng như mình đang ở giữa thành phố Bắc Kinh của Trung Cộng, tuy chưa đến nỗi phải đeo khẩu trang mỗi khi ra đường. Ngay biển và những bờ biển thật đẹp như Huntington beach, Seal beach, Newport beach… cũng được phủ xuống một lớp “khói mù” (smog) dày đặc. Màu xanh da trời hay màu xanh của biển ở Los có lẽ chỉ còn có trong tranh!

Cộng với nạn cháy rừng và sức nóng của mùa hè, tôi không biết người ta còn có đủ khí để thở trong lớp “sương mù” ấy không. Nhớ lại “khách sạn” của người vô gia cư tại Calgary, tôi thấy tội nghiệp cho những người vô gia cư ở Los. Tôi không biết những người vô gia cư ở thành phố Los, thành phố được mệnh danh là “thủ đô” của người vô gia cư, có thở nổi dưới bầu trời dày đặc khói mù và oi bức ấy không.

Để giúp vợ chồng tôi cảm được thế nào là cuộc sống vô gia cư ở Lo Angeles, một linh mục Việt Nam làm việc cho người vô gia cư đã đưa chúng tôi đi một vòng “thủ đô” của họ. Phải mất nửa tiếng đồng hồ lái xe mới có được một cái nhìn khái quát về “thủ đô” này. Trên vỉa hè của rất nhiều dãy phố ngay trong trung tâm thành phố Los, người vô gia cư dựng lên những túp lều bằng ni lông, cát-tông hay giấy bạt vừa đủ không gian cho một người để nằm. Ngồi trong xe có máy lạnh, nhưng tôi vẫn cảm được cái nóng đốt cháy da thịt của mùa hè ở Los. Vậy mà theo vị linh mục này cho biết: dân số vô gia cư ở thành phố Los theo con số chính thức là khoảng 50 ngàn người. Nhưng ông nói rằng trong thực tế con số ấy có thể cao hơn. Phần lớn là người Mỹ gốc Phi Châu.

Nhớ lại hình ảnh của “khách sạn” của người vô gia cư tại Calgary bên Gia Nã Đại, rồi nhìn xuống những túp lều của những “Chú Tom” (như ai đó đã gọi người Mỹ gốc Phi Châu một cách khinh miệt!) tôi thấy xót xa. Những trang sử đen tối của chế độ nô lệ vào thời kỳ lập quốc của Hoa Kỳ lại hiện về trong tâm trí tôi. Có thể tách lìa sự phồn vinh và phú cường của đệ nhứt siêu cường thế giới khỏi lịch sử ấy không? Hoa kỳ có thể trở thành một cường quốc không nếu không có hàng hàng lớp lớp đời này qua đời khác những người nô lệ da đen bị bóc lột tất cả từ khi chào đời đến lúc lìa đời không? Và khi sự giàu có lại san sát với cảnh nghèo thì liệu đó có phải là sự phồn vinh đích thực không và một sự giàu sang phú quý như thế có thể khỏa lấp được lương tâm của mình để thực sự sống hạnh phúc và bình an không?

Có lẽ tôi thường suy nghĩ theo lối “triết lý cùn” của một người nghèo nên luôn cho rằng sự giàu sang không đương nhiên mang lại hạnh phúc đích thực cho con người. Nghĩ xa hơn tôi cũng cho rằng sức mạnh kinh tế và nhứt là quân sự của một quốc gia cũng không đương nhiên mang lại hạnh phúc cho người dân và nhứt là biện minh cho sự chính danh của một chế độ.

Tôi có ý nghĩ ấy khi đọc một bài phóng sự mới đây của Đài BBC về cuộc sống của người dân Nam Hàn. Bài phóng sự mở đầu với hình ảnh của một người đàn ông đang ngồi câu cá dọc theo một bờ đá. Những đứa con của ông đang chơi đùa bên cạnh. Phóng viên của Đài BBC viết rằng người đàn ông này đang quảng cáo không công cho một chiến dịch của Chính phủ Nam Hàn có tên là “Worabel”,  nghĩa là “cân bằng việc làm và cuộc sống”.

Theo Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế gọi tắt là OECD, Nam Hàn là một trong những quốc gia có số người phải làm việc nhiều giờ nhứt trên thế giới: trên 20 phần trăm công nhân Nam Hàn phải làm hơn 50 giờ một tuần và phần lớn không nghỉ hơn phân nửa số ngày nghỉ mà họ có quyền lấy.

Dĩ nhiên, làm việc quá tải như thế cho nên nhiều người bị căng thẳng và rơi vào trầm cảm khiến cho tỷ lệ tự tử ở Nam Hàn lên rất cao. Ngoài ra, làm việc quá nhiều cũng khiến cho sinh xuất của Nam Hàn ngày càng giảm. Người phụ nữ sợ sinh đẻ bởi vì họ sợ vác thêm gánh nặng của việc nuôi dạy con cái.

Sự phát triển kinh tế của Nam Hàn quả là một phép lạ tại Á Châu. Ngày nay, các sản phẩm của Nam Hàn như xe hơi, thiết bị gia dụng, điện thoại tinh khôn… tràn ngập khắp thế giới. Ngay cả kỹ nghệ điện ảnh của Nam Hàn cũng xâm chiếm thị trường thế giới. Thu nhập trung bình  tính theo đầu người của người dân Nam Hàn trong năm nay đã lên đến 30.000 Mỹ kim. Từ xe BMW đến phòng vệ sinh được điều khiển từ xa (remote control)…bất cứ thứ xa xỉ nào trên thế giới, họ cũng đều có cả. Tuy nhiên kể từ năm 2013, nếu so sánh với các nước khác trong Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế, sự hài lòng với cuộc sống của người dân Nam Hàn lại ở dưới mức trung bình.

Chính vì vậy mà trong chiến dịch vận động bầu cử, Tổng thống Moon Jae-in đã tung ra khẩu hiệu “Người dân là trước hết” (People first). Ông muốn thấy người dân phải được hạnh phúc chớ không chỉ biết làm quần quật suốt ngày để làm giàu. Trong thông điệp đầu năm 2018 vừa qua, ông nói rằng “Tự nó con số (30.000 Mỹ kim) không quan trọng. Điều quan trọng là phải bảo đảm cho người dân hưởng được cuộc sống tốt đẹp hợp với số thu nhập tính theo đầu người là 30.000 Mỹ kim ấy”. Tựu trung, với khẩu hiệu “Người dân là trước tiên” của ông, đương kim tổng thống Nam Hàn mong muốn cho người dân được thực sự hạnh phúc.

Thật ra, Nam Hàn không phải là quốc gia duy nhứt hay đầu tiên quan tâm đến hạnh phúc của người dân. Kể từ năm 2012, Anh Quốc cũng đã làm một bài tính từ bảo hiểm y tế, công ăn việc làm và giáo dục để đề ra những chính sách khả dĩ giúp người dân được sống hạnh phúc. Riêng các Tiểu vương quốc Á Rập Thống Nhứt mới đây đã lập thêm một bộ mới lấy tên là “Bộ Hạnh phúc và Phúc lợi” với tham vọng trở thành một trong những nước hạnh phúc nhứt trên trái đất vào năm 2021.

Nhưng nói đến hạnh phúc của người dân, không thể không nói đến bước đi tiên phong của Vương quốc Bhutan, quốc gia có đa số dân theo Phật Giáo nằm ở phía Đông Hy Mã Lạp Sơn. Kể từ năm 2008, quốc gia này tuyên bố đặt Tổng sản lượng Hạnh phúc lên trên phát triển kinh tế. Năm 2016, Tổng thống Moon đã viếng thăm Bhutan. Cảm hứng từ những gì đã quan sát được ở Bhutan chăng, ông cũng muốn đưa hạnh phúc của người dân lên trước hết, xem hạnh phúc của họ như điều kiện tiên quyết của phát triển kinh tế.

Dân giàu nước mạnh. Có người dân và chính phủ nào không mong muốn điều đó. Nhưng thế nào là giàu mạnh? Và có phải giàu mạnh bằng mọi cách, mọi giá hay không? Thời xa xưa các đế quốc và các nước thực dân đã làm giàu bằng tài nguyên cướp bóc từ  các nước thuộc địa và nhứt là trên xương máu của người nô lệ. Ở Thế kỷ 20, trước khi xảy ra Đệ nhị Thế chiến, Đức quốc xã của Hitler và nước Ý dưới thời Benito Mussolini là 2 nước có nền kinh tế mạnh nhứt nhì Âu Châu. Hai nhà độc tài này đã dùng kinh tế để biện minh cho những chính sách vô nhân đạo của họ. Gần đây hơn, với chủ trương “mèo trắng hay mèo đen không quan trọng, miễn là bắt được chuột”, Trung Cộng đã làm giàu và làm giàu bằng mọi cách, kể cả phá hủy môi trường và nhứt là chà đạp và tước đoạt tất cả mọi quyền căn bản của người dân. Nói đâu cho xa, kể từ lúc mở cửa, kinh tế Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể. Nhưng liệu sự phát triển kinh tế ấy có biện minh được cho chế độ độc tài đảng trị, bán nước của đảng cộng sản không?

Kinh tế không phải là tất cả. Sự sống còn và sức mạnh đích thực của một quốc gia còn phải dựa vào những giá trị khác như nhân bản, đạo đức mà kinh tế và sự giàu có không thể mang lại được. Một nguyên thủ quốc gia đích thực không chỉ là một nhà kinh tế giỏi, mà còn phải là người đại diện và xiển dương những giá trị nền tảng làm nên sức mạnh và sự vĩ đại đích thực của một quốc gia. Thời nào người dân cũng đòi hỏi nơi nhà lãnh đạo tài ba và đức độ. Nói một cách đơn giản, hơn ai hết, nguyên thủ quốc gia phải là một người có tư cách.

Xét cho cùng, như “nhà đạo” của tôi dạy: con người không chỉ sống bằng cơm bánh! Làm giàu một cách bất lương là điều đáng phỉ nhổ. Nhưng giàu có mà không san sẻ, sớt chia cho người nghèo cũng là một cách sống không phải đạo. Một cuộc sống có ý nghĩa, đáng sống còn phải được xây dựng trên những giá trị nhân bản và đạo đức nữa.

Chu Thập

 

 

 

 

 

Be the first to comment

Leave a Reply