Từ khi em là nguyệt

(Người tình thiên thu của chú Tám Khiêm)

 “Không Phượng, chú chưa từng được hưởng qua hương vị của cái cháu gọi là tình yêu, trừ lần… ừm, nhưng cũng không thực sự là một romantique.” Chú Tám Khiêm trả lời.

Với tôi là Phượng thời ấy tuổi mười tám mê tiểu thuyết thích cải lương chuộng phim tình cảm và thường xuyên hát lải nhải những bài ca yêu đương, thì ái tình lãng mạn làm cuộc đời dương thế trở nên đẹp tuyệt vời, (Hollywood cho đó là trục quay của quả địa cầu.) Chú tôi già cây đa mà chân cẳng tật nguyền, chắc là chẳng hiểu những gì tôi hiểu.

Trông theo hướng đôi mắt đã giảm sút tinh anh của chú đang chăm chú nhìn, tôi thấy khung hình nhỏ lồng bức chân dung một phụ nữ, treo ngay tại chỗ để tay bên phải chiếc ghế bành, dành riêng cho chú ngồi. Người trong ảnh mày ngài mắt phượng, da trắng như bạch ngọc điểm phấn son, gương mặt trái soan thập phần quyến rũ một kiểu mặt thời nay hiếm thấy. Tôi đứng dậy để ngắm nhan sắc ấy, như tôi đã làm mấy trăm lần thuở còn thơ ấu. Lần nào cũng hỏi: “Ai vậy chú Tám.”

Một người qua đời đã lâu.

Bữa nay trông lại mặt người ngày xưa, tôi hỏi câu mới:

Lúc nào cô ấy cũng đẹp như vậy cả hả chú.

Ai?

Người tình thiên thu của chú!

Chú Khiêm nhìn tôi soi mói, rồi nói:

Ừm, lúc nào cũng đẹp như vậy cả.

Tôi ngồi bó gối dưới đất cạnh chỗ chú ngồi:

Kể về cô ấy cho cháu nghe đi.

Chẳng có gì để kể hết trơn cháu ơi. Chú Tám nói. “Phần lớn của câu chuyện theo chú đã bắt nguồn từ óc tưởng tượng và sự xuẩn động, tuy thế vẫn phải công nhận đó là niềm hạnh phúc rất thật mà chú tìm được: Một lần một đời.”

Chú Khiêm ngừng ngang và tôi yên lặng chờ đợi, bởi lúc nào mình cũng phải cho người khác thời gian, với người trọng tuổi lại càng cần thiết.

Chú bắt đầu trở lại, giọng mơ màng là một báo trước cho cái tai đang háo hức nghe một câu chuyện của tôi biết nó sẽ được mãn nguyện, (luôn luôn là như vậy.)

“Tuổi trẻ chú rất lẻ loi, lúc nào cũng thui thủi một mình, chưa hề có người yêu để hẹn hò đi ciné hay đi bát phố, giung giăng giung giẻ đặng giựt le với bạn bè hoặc cho thiên hạ lé mắt. Mà chân lúc nào cũng què, tật nguyền từ hồi còn bé lận, sốt nặng y tá vườn chích mũi thuốc trúng gân – rút gân, đường đến trường chân cao chân thấp thường bị bọn con trai ném đá giựt cặp quẳng vô bụi, riêng tụi con gái thấy chú cà nhắc cà nhắc đi qua là che miệng cười khúc khích, chúng gọi chú là thằng què khu Dốc Đá do nhà ông nội ngày xưa ở đó. Có lần bị con nọ nhà ngay dưới dốc xịt chó bẹc giê ra cắn xem cảnh chú cố gắng chạy đã cười hăng hắc ra chiều thích thú.”

Im lặng thêm vài giây. Ngay lúc này chú Khiêm đang nói: “Không được đám đông chấp nhận vào cuộc chơi, chú thường lang thang ở những nơi vắng vẻ thả hồn vào thế giới riêng. Thiên đường mộng mơ của chú là vườn cây nhà thờ nằm trên ngọn đồi- giữa cánh đồng hoang sơ mặt đất hơi lầy, hiếm ai lai vãng. Nhưng cái mang tính chất một cõi trời riêng ta với ta ấy-trên thực tế cũng đã mất, và mất từ lâu lắm rồi. Dẫu ngốc thật đấy mà chú thấy rất bực bội những tối mùa hè cứ nghe âm thanh rù rì phát ra từ phía bên kia bức bình phong cây xanh. Có thể vào lúc mình đi ngang thì họ đang trao nhau nụ hôn nồng cháy.

Thường khi chốn bao la đã một màu đen thẩm chú mới vào ngồi một mình ở khuôn viên nhà thờ là nơi thoáng mát vì nằm trên cao, gió thổi miên man thoang thoảng trong không khí mùi xạ hương ngọt ngào. Luôn luôn bầy dơi tới chơi một đỗi ngắn trước khi đi ăn đêm, lần nào coi chúng bay chuyền chung quanh vùng ánh sáng của mấy ngọn đèn lồng, chú cũng buồn rầu hỏi vì sao mình đã không được Chúa tặng cho một cặp cẳng chắc chắn thẳng ro và xinh xắn như những đôi chân của loài động vât máu nóng, không là chim nhưng có thể bay. Tuy thế chú chỉ cay đắng cho đến khi đèn tắt, để đường về lòng chẳng nặng nề; trước lúc ngủ vẫn cầu nguyện được.

 Rồi một tối kia tháng Sáu trời hầm, đắm chìm trong cảnh chiều tím cho đến khi mảnh trăng lưỡi liềm phát ánh hoàng kim, chú khởi sự đi vào trong, chân vừa để lên phiến đá thấp nhất của bức tường thì nghe sau lưng có tiếng động nhỏ, những tưởng sẽ thấy chú cò hay chị thỏ rừngkhi quay lại. Nhưng là một phụ nữ trẻ.”

Chú Khiêm nhìn bức chân dung, cùng lúc với tôi.

“Đó là khuôn mặt người mà chú gặp. Thãng thốt quá đã thốt ra cái gì đó không rõ khiến cô ta cười và hỏi, có phải thày nghĩ tôi ma hay chồn tinh hiện hình chòng ghẹo thư sinh, và chú trả lời; và chú đứng trên bờ thành đá nhà thờ nói chuyện cùng cô gái xinh đẹp và lễ độ đã gọi chú là thày, cho đến khi màn đêm hoàn toàn bao phủ cảnh vật- đom đóm xuất hiện thành đàn lập lòe ánh lửa ma trơi trên hai vệ cỏ dọc theo lối về.

Đêm sau và những đêm sau cô gái với chú lại gặp nhau. Tất cả đều khởi đầu lúc trời chạng vạng. Có phải vì bây chừ cũng có bạn gái như ai nên trái tim hỉ xả, đi ngang những tình nhân đang đứng dựa lưng vào thành đá ngay bìa của khe hở hẹp té – chỉ đủ cho một thân hình ôm ốm lách qua, chú đã chẳngthấy gai con mắt.”

Một phút im lìm, rồi chú Khiêm nói tiếp với chút chi ngượng ngùng. “Chuyện là chuyện xa xưa, và chú là một ông già; Nhưng chú có thể hiểu được tất cả những gì gọi là tuổi trẻ và những niềm vui, dù tật nguyền và bị lũ con gái coi là trò cười. Chú không nhớ câu chuyện kéo dài bao lâu, vì mình làm sao nắm được thời giờ trong những giấc mơ, cho đến lúc ông nội nói sắc mặt chú tối đen dấu hiệu bị ma ám, tính cho chú xuống vùng lục tỉnh- bình nguyên đất lành ở chơi nhà bà con một thời gian xua hết khí tà. Chú vâng lời bởi không tiện hở môi lý do vì sao mình thà chết hơn phải đi xa.”

Tên cô ấy là gì hả chú

Nàng không nói mà chú chưa từng hỏi, bởi tim nhiều mỹ hiệu gọi người yêu. Còn hôn nhân ư, dù trẻ mà chú có thể hiểu đó không phải một chuyện cho mình. Hằng đêm chú đến gặp nàng, ở chỗ có hàng cây đỗ trọng, nơi đám mồ mả cổ xưa cái cao cái thấp cỏ mọc dày dưới chân. Hội ngộ rồi chia tay cũng chỉ là chỗ ấy.

 “Đêm cuối cùng nàng rất âu sầu và là tất cả những gì hiện hữu, trăng sao, bầu trời, cùng sự sống. Và nàng nói:

 Nếu tháng sau thày tới đây vào lúc trăng non bắt đầu rạng, mình sẽ lại gặp nhau như bình thường. Trường hợp ánh trăng tân tỏa sáng mộ phần này mà thày vẫn vắng mặt thì hai ta đành, mãi mãi chia tay.

“Nàng áp bàn tay lên cái mà hai đứa đang dựa lưng vào. Đó là một cổ mộ rêu phong bia đá cũng mòn- khắc sơ sài vài chữ:

“Nguyễn thị Nguyệt Nữ

Từ trần:1884.”

– Anh sẽ về đúng kỳ yển nguyệt.*

– Điều em vừa thưa chẳng chi thay đổi đặng. Thày có chắc chắn về được đây cùng lúc với trăng?. Nàng nói chậm rãi, thái độ hết sức nghiêm trang.

“Chú hứa bằng tất cả tự tin nên giọng điệu cũng rất vững vàng, một đỗi sau hai đứa chia tay.

“Ở nhà bà con gần một tháng, chú sửa soạn hành lý cho chuyến đi về buổi sáng hôm sau. Lỡ tay làm rớt chiếc hộp gỗ đựng tranh ảnh cũ để trên chiếc bàn gần chỗ nằm, giữa những cái mà trong ấy đổ ra là, khung hình này. Chú lặng người, lưỡi cứng đơ sau một phút câm mới tìm lại tiếng nói để hỏi: “Ai đây cô Ba.”

“Cô họ chú đang ngồi trên tấm phản gõ gần đó xem nhật trình, ngẩng lên đưa tay nâng cặp mắt kính để trông cho rõ mặt người trong hình rồi trả lời: “À, cô đó xưa kia đã được hứa gả cho một ông trong gia tộc, chẳng may chết trước ngày hôn lễ. Sinh thời bị tiếng đồn giỏi tài ma mị, chắc chỉ vì mỗi tội đẹp hớp hồn đó thôi.”

“Chú lại nhìn khuôn mặt bờ môi đôi mắt người thương, là người và mình có lời thệ ước, đêm mai tái ngộ nơi vườn giáo đường với trăng soi nấm mồ chỗ hẹn.

– Cô Ba bảo họ đã qua đời? Chú nói mà không nhận ra tiếng mình.

– Mấy chục năm trước, cháu xem ở mặt sau, có ghi.

“Chú gỡ tấm chân dung ra khỏi cái khung- chỉ nhớ mỗi màu đỏ bạc phết của miếng nhung làm nền, đọc những chữ trên lưng: “Nguyễn thị Nguyệt Nữ. Từ trần: 1884.”**

Lúc bấy giờ là 1945.”** Chú Tám Khiêm bỗng dưng ngừng lại.

“Chuyện gì đã xảy ra.” Tôi hỏi mau.

“Chú tin rằng mình bị một cú sốc quá nặng nề.” Chú Khiêm nói thật chậm rãi. “Vì thế mà phát bịnh nặng.”

Và chú lỡ cuộc hẹn: Sáng trăng trên mộ.

Chú lỡ cuộc hẹn: Sáng trăng trên mộ.à chú chẳng còn mong gặp lại được người xưa.

Chú chẳng còn mong gặp lại được người xưa

Nhưng chú à, có thật là chú tin: Cái không thể mà thành có thể, để cô ấy-người chết-và chú…

Chú tôi lấy cái tẩu ra nhồi thuốc.

Mấy thập niên đã trôi qua, quá nhiều nước chảy dưới chân cầu, chuyện là truyện cổ tích của người già, Phượng à. Chỉ là một truyện cổ tích của người già thôi, cháu đừng suy nghĩ nữa.

Chú tôi bật lửa châm cái tẩu thuốc hút một hơi dài, yên lặng vài giây rồi nói: “Nhưng chú hiểu ý nghĩa của tuổi trẻ, tình yêu cùng hạnh phúc. Dù lúc nào cũng què và bị lũ con gái coi rẻ.”

Lương Phượng Anh

Melbourne

Chú thích:

*Yển nguyệt: Vầng trăng khuyết (lưỡi liềm)

** Năm người tình thiên thu của chú Tám Khiêm qua đời và năm nàng về làm bạn với chú ấy để rồi vĩnh viễn chia tay, là những năm mang lại hai biến cố vô cùng trọng đại trong lịch sử nước Việt Nam

1884: Pháp chính thức đô hộ Việt Nam; 1945: Việt Nam tái độc lập.

Be the first to comment

Leave a Reply