Từ nữ vương bị giáng làm phu nhân cận thần!

Tình sử thời nào, ở đâu cũng có những trang bi thảm và có những dòng tràn đầy vui tươi. Mới đây, tháng 5, 2017, chính khách trẻ tuổi đẹp trai Emmanuel Macron chính thức bước vào điện Elysee và trở thành tổng thống Pháp thì một phụ nữ vốn vô danh là bà Brigitte Trogneux, một nhà giáo tỉnh lẻ ở ngôi trường Providence, Amiens, phút chốc biến thành đệ nhất phu nhân.

Thiên hạ ca tụng mối tình quá đẹp, mới lạ vì phá bỏ khuôn mòn lối cũ, vì Brigitte tuổi đã ngoại lục tuần trong khi Macron chưa đầy bốn chục. Cuộc tình khởi từ tuổi 15 của cậu học sinh thích văn chương và kịch nghệ phải lòng bà giáo dạy môn sân khấu cổ điển. Cả hai đã cống hiến cho đời một vở kịch diễm tình, đầy đam mê cao thượng và hy vọng có thủy có chung.

Người tin vào số mệnh cho rằng đó là duyên trời tác hợp đôi lứa “chồng trẻ vợ già.” Đó là một niềm tin như Cung oán ngâm khúc từng ví von quyền họa phúc của cá nhân do Trời định và con người phải nhắm mắt đưa chân:

Quyền họa phúc trời tranh mất cả,
Chút tiện nghi chẳng trả phần ai,
Cái quay búng sẵn lên trời,
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm
.

Đẹp như mơ. Vì ông tơ bà nguyệt se duyên nên Brigitte Trogneux, đã có ba mặt con và một bầy cháu đã kiên tâm đầu tư cho tình yêu học trò và trở thành Brigitte Macron vào 2007. Người mê tín còn cho rằng hai tuổi Quý Tỵ (1953 của bà Brigitte) và Đinh Tỵ (1977 tuổi của Macron), cả hai tuổi Tỵ nói trên gặp năm Đinh Dậu (2017) “tam hợp tuổi: Tỵ Dậu Sửu” nên thành công rực rỡ, và Brigitte một bước lên “bà.”

Trên là câu chuyện vui, làm đẹp cuộc đời có nhiều chất xám nhưng lịch sử thiếu gì chuyện buồn, có người đang ở địa vị thực cao sang bỗng nhiên mất tất cả trong tuổi nửa chừng xuân. Chẳng hạn thiên tình sử của vị vua, và nữ vương, cuối cùng nhà Lý: Lý Chiêu Hoàng.

Lý Chiêu Hoàng là ai?

Sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược đã giới thiệu vị nữ vương bị số mạng thất sủng như sau:

“Huệ-tông (1211-1225), vị vua thứ tám của nhà Lý, có bệnh mãi không khỏi, mà Thái-tử thì chưa có, Trần-thị thì chỉ sinh được hai người con gái, người chị là Thuận-thiên công-chúa thì đã gả cho Trần Liễu là con trưởng của Trần Thừa; còn người em là Chiêu thánh công chúa tên là Phật-kim thì mới lên 7 tuổi, Huệ-tông yêu mến lắm, cho nên mới lập làm Thái-tử. Tháng 10 năm giáp-thân (1224) Huệ-tông truyền ngôi cho Chiêu-thánh công-chúa, rồi vào ở chùa Chân-giáo. Chiêu-thánh công-chúa lên ngôi, tức là vua Chiêu-hoàng. Bấy giờ quyền-chính ở cả Trần Thủ Độ. Thủ Độ lại tư thông với Trần Thái hậu, đêm ngày mưu lấy cơ-nghiệp nhà Lý, bèn đòi các con quan vào trong cung để hầu Chiêu-hoàng, và lại cho cháu là Trần Cảnh vào làm chức Chính-thủ. Đến tháng Chạp thì Chiêu-hoàng lấy Trần Cảnh và truyền ngôi cho chồng. Nhà Lý đến đấy là hết, cả thảy làm vua được 216 năm, truyền ngôi được 9 đời. Nhà Lý có công làm cho nước Nam ta nên được một nước cường thịnh: ngoài thì đánh nước Tàu, bình nước Chiêm, trong thì chỉnh-đốn việc võ-bị, sửa-sang pháp-luật, xây vững cái nền tự-chủ. Vì vua Cao-tông hoang chơi, làm mất lòng người, cho nên giặc-giã nổi lên, loạn thần nhiễu sự. Vua Huệ-tông lại nhu-nhược bỏ việc chính-trị, đem giang-sơn phó-thác cho người con gái còn đang thơ-dại, khiến cho kẻ gian-hùng được nhân dịp mà lấy giang-sơn nhà Lý và lập ra cơ-nghiệp nhà Trần vậy”

Một nhà văn quá cố, ông Vũ Ngọc Khánh trong một tác phẩm viết về những thiên phong tình cổ lục của VN thuật lại đoạn tình sử này dưới dạng tiểu thuyết nên có ít nhiều hư cấu như sau:

“Chiêu Thánh công chúa nghĩ ngợi suốt đêm. Sáng nay, nàng mới gặp lại nhà vua, sau hơn hai chục năm trời ly cách. Đã tưởng đành cam với số phận hẩm hiu – cho đến lúc từ giã cuộc đời!

Công chúa lặng lẽ ôn lại quãng đời gần 30 năm về trước. Hồi đó là năm Ất Dậu (1225), nàng mới có 8 tuổi, nhưng đã đường đường ngồi trên ngai vàng, làm vua cai quản cả thiên hạ. Nàng vốn là con gái thứ hai của Lý Huệ Tông. Vua cha bị bệnh điên, không có con trai, phải chọn nàng lên ngôi hoàng đế. Ôi! Mới có 8 tuổi đầu thì biết gì mà coi việc triều đình. Mọi công việc đều nhờ vào quan Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ lo lắng cả. Ngoài việc ngồi ngai cho có lệ, cô bé chỉ ở trong cung chơi đùa với các bạn trẻ cùng lứa tuổi, con cháu các vị quan thân thích của họ Lý, họ Trần. Trong số những bạn này, có cậu thiếu niên Trần Cảnh là nàng thấy yêu hơn cả. Cậu ta cũng biết giữ lễ phép vua tôi, vẫn xưng hô với nàng là: Tâu bệ hạ! Nhưng tâu trình mà làm gì, ta đã thân thiết với nhau thì cứ yêu quý nhau. Cô bé đã có lúc nắm tóc, bắt tay, kéo Trần Cảnh đứng lồng bóng với nhau, ném khăn trầu cho nhau để tỏ tình tha thiết. Sự gắn bó ấy đã tạo điều kiện Trần Thủ Độ sắp xếp cho hai cô cậu thành vợ thành chồng. Và việc tất nhiên phải xảy ra, nàng đã là vợ. Vợ nhường ngôi cho chồng là chuyện hợp lý. Vả lại, dù còn ít tuổi, Trần Cảnh quả cũng là một thiếu niên có tài năng, có thể thành ông vua xứng đáng. Nàng không còn là vua nữa, song lại là hoàng hậu. Chiêu Thánh hoàng hậu vui lòng với bổn phận người vợ, và cũng xem hành động của mình là có ích cho đất nước. Nhà Trần thay nhà Lý đã dần dần dẹp yên được giặc giã, chỉnh đốn được kỷ cương, đưa thiên hạ sống trong cảnh thái bình thịnh trị. Việc nhường ngôi của nàng không đáng chê trách chút nào.

Ngày tháng trôi qua, nàng càng thiết tha yêu Trần Cảnh mà nàng thấy quả là một bậc anh quân. Trần Thái Tông có học thức cao, nghiên cứu nhiều vấn đề lý thuyết tôn giáo một cách sâu sắc. Ông cũng có tài ngoại giao chính trị, lại được nhiều người giỏi phò tá, nên việc quân việc nước đều được thu xếp gọn gàng. Hoàng hậu càng thêm vinh dự là chọn được người chồng xứng đáng. Nàng chỉ băn khoăn có một điều, là không hiểu vì sao mãi hai người không có con! Khi còn nhỏ tuổi, chưa cần nghĩ đến việc này, song đến lúc mười tám đôi mươi mà chưa một lần sinh nở thì thật đáng lo lắng.

Và đúng là sự lo âu này có cơ sở. Không sớm có con là một điều tai họa đối với nàng. Chính con người đã tác thành duyên lứa cho nàng, lại vin vào cớ này để chia rẽ nàng với nhà vua! Thái sư Trần Thủ Độ – ông này đã được phong chức Thái sư – nói thẳng với Thái Tông rằng: “Hoàng hậu Chiêu Thánh làm vợ đã hơn 10 năm, đến nay đã 20 tuổi (1327) mà không sinh nở, thì làm sao có hy vọng về sự nối dõi sau này, phải chọn một hoàng hậu khác!”.

Ý muốn của Trần Thủ Độ trở thành một nghiêm lệnh. Trần Thái Tông dẫu hết sức yêu dấu nàng, cũng không làm sao cưỡng lại. Nhà vua rất buồn rầu, áy náy, một đêm kia đã rời bỏ kinh thành, trốn lên ở chùa mãi ngoài núi Yên Tử. Rời bỏ Chiêu Thánh, ông xem như đã làm “một điều nhục nhã, không xứng đáng với ngôi vua” (Nguyên văn trong Đại việt sử ký toàn thư, bản kỷ quyển 5). Nhưng Trần Thủ Độ không nghe, đem quan lại và quân lính lên núi, buộc Thái Tông phải về. Ông ta lại bắt Trần Liễu, anh ruột vua, nhường vợ đang có thai cho vua. Trần Liễu tức giận, khởi binh toan làm loạn, song yếu thế phải đầu hàng. Mọi việc sắp xếp như thế nào, cứ đúng thế mà thi hành, không ai cưỡng lại được lệnh của Trần Thủ Độ!

Thế là từ nay, Chiêu Thánh hoàng hậu bị giáng xuống làm công chúa, sống âm thầm một mình một bóng với nỗi hiu quạnh khổ đau. Nàng không oán trách – mà biết oán trách ai! Nàng cũng chẳng biết cùng ai tâm sự – tâm sự với ai và tâm sự để làm gì. Hai mươi năm trôi qua, vua Thái Tông, tất nhiên có điều mặc cảm, lao vào công việc triều chính, chỉ đạo cuộc chiến tranh chống bọn Mông Nguyên, không tiện – và có lẽ cũng không dám – gặp nàng. Ấy mà vừa rồi đây, nhà vua lại thân hành đến, xin được cùng nàng thương lượng.

Thái Tông đã đem đến cho nàng một tin bất ngờ, mà cung là một cái lệnh đột xuất! Đầu tiên, vua tỏ ý buồn rầu, đau khổ vì phải để nàng chịu số phận gần như bị ruồng bỏ suốt một thời gian. Giờ đây, nàng đã vào tuổi bốn mươi, nhưng vẫn còn xuân sắc, cũng cần có nơi nương tựa để làm vui khi xế bóng mãn chiều. Vua muốn cho nàng nối lại dây đàn với một vị tướng đã lập công trong chiến trận.

Chiêu Thánh ngạc nhiên trước quyết định ấy. Từ lâu, nàng không còn nghĩ đến chuyện tình duyên. Cuộc hôn phối với Trần Cảnh kết thúc một cách thảm sầu, vết thương lòng của nàng có gì bù đắp được. Thế mà bây giờ, nhà vua lại nói đến chuyện gả chồng cho nàng. Người chồng ấy là ai?

Thái Tông tìm những lời tha thiết dịu dàng để thuyết phục người vợ cũ. Vua vẫn gọi Chiêu Thánh là ái khanh, nhắc lại với nàng những kỷ niệm đẹp đẽ thuở thiếu thời, và nhấn mạnh công lao của nàng. Nàng quả là đã vì cơ nghiệp nhà Trần, vì quyền lợi của bản thân Trần Cảnh mà hi sinh chịu đựng. Vua không được cùng nàng bách niên giai lão, song vua phải có bổn phận với nàng. Người mà vua muốn cho kết duyên với nàng, cũng là người có công bảo vệ nhà vua. Đó là một vị anh hùng, một tráng sĩ.

Chiêu Thánh ngước nhìn Thái Tông, lắng nghe lời nhà vua phân tích và giới thiệu.

– Ông này, chính tên là Lê Tần, là con trai của Thượng tướng Lê Khâm, dòng dõi vua Lê Đại Hành ngày xưa. Ông ta là một trang phong lưu mã thượng. Năm vừa rồi (1257), đánh nhau với tướng Nguyên Mông là Ngột Lương Hợp Thai, chính nhờ Lê Trần mà trẫm mới an toàn, Trần có mưu lược, đã khuyên Trẫm lui về Thiên Mạc để bảo toàn lực lượng. Trong trận mưa tên bão đạn, một mình Tần giơ cao ván thuyền để che chở cho Trẫm. Hôm bình công, chính Trẫm đã nói với ông ta: “Không có khanh thì Trẫm làm sao có được ngày nay. Câu nói ấy, nói với công chúa cũng là hoàn toàn chính xác. Xin công chúa hãy làm theo ý Trẫm, gá nghĩa với người này!

Chiêu Thánh không muốn trái lời Trần Cảnh nữa. Nàng vui vẻ chấp nhận cuộc hôn nhân. Lê Tần, được nhà vua đổi tên thành Lê Phụ Trần và phong chức ngự sử đại phu, giữ một trọng trách trong triều đình. Ông cũng được cử làm chánh xứ, cùng với Chu Bác Lãm sang giao thiệp với nhà Nguyên.

Chiêu Thánh đã sống với Lê Phụ Trần những ngày tốt đẹp nhất của đời mình. Cũng là một điều kỳ diệu, chỉ một năm sau ngày cưới, Chiêu Thánh đã sinh được một cậu con trai. Nhà vua đã cho Lê Tần đổi họ thành họ Trần. Cậu con trai được đặt tên là Trần Bình Trọng. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi tên là thượng vị hầu tông Trần Bình Trọng còn có người em gái là Khuê được phong làm Ưng Thụy công chúa. Sau hai người con này, vợ chồng Phụ Tần – Chiêu Thánh không sinh thêm đứa con nào nữa.

Hai vợ chồng chăm chú nuôi dạy đứa con yêu quý. Trần Bình Trọng lớn lên, rất giỏi võ nghệ, theo đúng nghiệp nhà. Chiêu Thánh đã xin với Trần Nhật Duật, cho em gái ông về làm con dâu mình. Cô gái ấy là Thụy Bảo công chúa. Hai vợ chồng Trần Bình Trọng và Thụy Bảo sau sinh ra nàng Chiêu Hiến, được tuyển làm vợ vua Trần Anh Tông. Nhưng đó là chuyện sau, Chiêu Thánh không được chứng kiến. Nàng đã mất khi Trần Bình Trọng 17 tuổi (1278) cũng không được biết tấm gương trung nghĩa của con mình trong trận đánh quân Nguyên năm 1285.”

Sử đời sau chê trách nặng lời việc vua Trần Thái Tông mang bà là vợ cũ gả cho Lê Phụ Trần là bầy tôi.

Ở Từ Sơn vẫn còn câu ca dao thác lời Chiêu Hoàng trách Trần Cảnh về việc này:

“Trách người quân tử bạc tình

Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao!”

Đầu năm 1278, bà về thăm quê Cổ Pháp (Bắc Ninh). Tháng 3 âm lịch năm đó, bà mất, thọ 61 tuổi

Tương truyền khi qua đời, tóc bà vẫn đen nhánh, môi vẫn đỏ như son, má vẫn tươi như hoa đào. Bà được táng ở bìa rừng Báng, phía tây Thọ Lăng Thiên Đức. Bà được người đời sau lập đền thờ, gọi là Long miếu (đền Rồng). Sở dĩ Chiêu Hoàng không được thờ chung tại đền Đô mà phải thờ riêng vì bà là người bị xem là có tội với dòng họ Lý khi để mất nhà Lý.

Đền thờ của bà hiện nay tại Đình Bảng thị xã Từ Sơn, (tỉnh Bắc Ninh). Nhà thơ Tản Đà cảm khái về thân phận người phụ nữ vốn là nữ vương, rồi bị hoàn cảnh ép buộc dâng triều đại mình cho họ khác, trở thành hoàng hậu và rồi lại bị cưỡng bức hạ đài trở thành phu nhân một viên tướng dưới quyền như sau:

Quả núi Tiên Sơn có nhớ công

Mà em đem nước để theo chồng

Ấy ai khôn khéo tài dan díu

Những chuyện hoa tình có biết không?

Một gốc mận già thôi cũng phải

Hai trăm năm lẻ thế là xong

Hỏi thăm sư cụ chùa Chân Giáo

Khách khứa nhà ai áo mũ đông?

Chu Nguyễn

__. _, _. ___

 

Be the first to comment

Leave a Reply