Từ Việt Nam Việt Nam- John Ford đến Last Day in Việt Nam- Rory Kennedy.

Khi bộ phim The Viet Nam War mười tập dài 18 tiếng đồng hồ vừa chấm dứt với âm thanh của bản nhạc The Beatles, Let It Be, nhiều câu hỏi được đặt ra với tôi cũng như sự phân vân về lịch sử của đất nước mình. Tôi nghe từ ngôn ngữ nhạc một điều gì thầm thì:

“Hãy giữ. Hãy giữ. Hãy giữ lại

Lời thầm thì của trí tuệ

Hãy giữ lại.

Và khi những người tan nát trái tim

Sống trong thế giới đồng thuận

Sẽ có câu trả lời

Hãy giữ lại.

Cho dù họ có thể bị phân cách

Vẫn còn cơ may mà họ sẽ chứng kiến

Sẽ có câu trả lời

Hãy giữ lại…”

Nhưng, từ bộ phim, với tôi, câu trả lời chưa toàn vẹn. Đã 42 năm một cuộc chiến đã qua, nhiều cuốn phim về chiến tranh Việt Nam đã xuất hiện. Không phải Ken Burns và Lynn Novick là những đạo diễn đầu tiên của loại phim này. Đã có những phim thực hiện trong thời kỳ chiến tranh hay thời hậu chiến, có những cuốn phim đã gây cho tôi thật nhiều suy nghĩ và ấn tượng. Trước khi viết và nghĩ về bộ phim mới nhất của PBS vừa được trình chiếu ngày 17 tháng 9 năm nay, tôi nhớ lại những bộ phim trước và để có thể ở bài viết thứ hai nhìn ngắm bộ phim này với nhận xét của một khán giả ở phần sau để đối chiếu và tìm ra một câu trả lời.

Ngày 7 tháng 2 năm 2009 là ngày mà bộ phim tài liệu “Vietnam, Vietnam” được cho phép phổ biến sau hơn ba chục năm không được phép trình chiếu. Ngay lập tức trên mạng đã có hàng chục ngàn ý kiến về sự kiện này. Một trong những ý kiến này như:

“Một bộ phim tài liệu tuyệt vời. Tôi thích đoạn phim cuối với hình ảnh của những người Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn ở Trung tâm huấn luyện Chí Linh và chúng tôi có thể hiểu được nỗi khó khăn mà ông Thiệu đã gặp trong cuộc chiến phức tạp này. Một điều không may là bộ phim này đã hoàn tất vào năm 1971 nhưng không rõ vì một lý do nào mà tổng thống Nixon đã không cho trình chiếu và từ khi ông bị bơi trong biến cố Watergate, những kẻ phản chiến đã thắng trận trong chiến tranh Việt Nam.”

Hay một ý kiến khác:

“Trong 19 phút rưỡi, chúng ta có thể nhìn thấy được trong vi phim những vũ khí đến từ Nga Xô Viết và Trung Cộng. Cũng như Hà Nội đã từ chối và phủ nhận nguồn tin cho rằng đã có những người ngoại quốc tham chiến tại Việt Nam đặc biệt là những chuyên viên kỹ thuật về hỏa tiễn phòng không. Thế nhưng trong phim”Vietnam; Vietnam” đã có cảnh những chuyên viên điều khiển hỏa tiễn Nga, những kỹ sư Cuba và những phi công Bắc Hàn có mặt tại các trận địa phòng không của Bắc Việt. Và tin tức mới nhất của thông tấn xã Liên Xô đã tiết lộ danh tánh và hình ảnh người chuyên viên Nga đã điều khiển hỏa tiễn Sam bắn hạ chiếc phi cơ Skyhawk A-4 của phi công John Mc Cain gần Hà Nội.

Tôi có thể hiểu được Ông Thiệu đã quan tâm rất nhiều về sự chiến thắng hay thất bại của cuộc chiến nhưng ông đã quên rằng Quốc Hội Hoa Kỳ không để ý rằng phe nào sẽ thua hay được mà chỉ quan tâm đến là làm thế nào chiến tranh phải chấm dứt với bằng mọi giá. Nếu ông Thiệu có nhận định như thế và thay đổi kế hoạch là tiếp tục chiến đấu tự lực không có sự hỗ trợ của Hoa Kỳ trong những năm cuối cùng thì có lẽ sẽ có một chọn lựa khác cho cuộc chiến. Nhưng ông là một người chạy làng rất giỏi… Và bây giờ ông Thiệu cùng với tổng thống Nixon đã ra đi vào một thế giới khác.”

Những ý kiến như thế đã tràn ngập trên các trang mạng ngay lúc lệnh cấm chiếu phim này được hủy bỏ. Tại sao một cuốn phim đã bị bỏ xó trong kho suốt 37 năm trời nay được trình chiếu lại mà gây ra dư luận xôn xao đến như thế. Có phải là cái nhìn về chiến tranh Việt Nam đã khác sau một khoảng cách thời gian để nhìn ngắm lại. Hay, những người phản chiến năm xưa đã nhìn thấy rõ được sự thật. Phim Việt Nam Việt Nam của John Ford có phải đã hé lộ phần nào sự thực ấy?

Phim “Vietnam, Vietnam” do cơ quan USIA (USA Information Agency) thực hiện về chiến tranh Việt Nam mà vai chính kể chuyện là Charlton Heston, đã thu hình lần đầu tiên trong hai tháng ở ngay lãnh thổ Việt Nam từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1968 và tiếp tục thực hiện cho đến năm 1971. Dù John Ford là nhà sản xuất phim đã đến Việt Nam nhưng ông không tham dự trực tiếp vào công việc sản xuất tại đây từ những lần thu hình đầu tiên có lẽ vì sức khỏe kém. Nhưng John Ford sau đó dã giám sát công việc sửa chữa hoàn chỉnh và viết lại bản phân cảnh cũng như sắp xếp lại bố cục của phim. Và theo nhiều người, John Ford muốn để lại dấu ấn cuối cùng của tài nghệ mình bằng phim này.

Eric Spiegelman, người đã mang phim “Vietnam, Vietnam” lên mạng trong blodg “Bus Your Own Tray” đã viết:

“John Ford đã thực hiện bộ phim “Vietnam, Vietnam” để tán đồng lý do tham chiến tại Việt Nam do chính quyền Hoa Kỳ dề nghị trước khi ông qua đời. Cuốn phim này chưa bao giờ được công bố tại Hoa Kỳ và có rất ít người được xem nó. Đây là một bộ phim được sản xuất bởi một tên tuổi đạo diễn nổi tiếng mà cũng có thể nói đây là một bộ phim tuyên truyền theo mục đích phục vụ cho cuộc chiến đang diễn ra tại Việt Nam. Phim đã bắt đầu thu hình vài tháng sau biến cố Tết Mậu Thân và khi cuốn phim quay xong vào năm 1971 thì chính phủ Hoa Kỳ đã quyết định rút quân khỏi Việt Nam và đàm phán trên bàn hội nghị với đối phương để tìm hòa bình. Cuốn phim, trở thành không cần thiết cho một thời kỳ chính trị mới nên nó bị cất vào trong văn khố quốc gia suốt 32 năm. Tôi biết cuốn phim này ba năm về trước, tôi tò mò và mượn cuốn phim từ Văn Khố Quốc Gia sửa chữa edit lại để có thể xem được. Trải qua bao nhiêu năm bỏ quên không sử dụng, phần âm thanh audio của bộ phim đã bị hư hại tôi phải nhờ một người cháu làm lại từng phần âm thanh để có thể nghe được rõ ràng hơn.

Cuốn phim tài liệu với những thước phim đã quay thực sự đã gây một sự khủng khiếp cho người xem. Không tìm được đoạn phim nào cho thấy có những tương quan liên hệ với những thước phim danh phẩm lừng lẫy mà John Ford đã đạo diễn trước đây. Có vẻ như John Ford đã có mặt tại Việt Nam trong những lần quay phim đầu tiên nhưng thật ra vào lúc đó, tuổi già nua và bệnh hoạn đã bắt buộc ông phải ở Hoa Kỳ trong suốt tất cả các giai đoạn sản xuất phim. Theo Tag Gallagher, một người nhận được học bổng từ Ford Foundation, cho biết thì John Ford đã kiểm soát toàn thể giai đoạn sửa chữa edit phim cũng như có lần ông đã viết lại kịch bản phim. Dẫu sao, Ford cũng muốn dấu ấn tên tuổi ông dính liền với bộ phim này. Nó phản ánh niềm tin tưởng vô cùng mạnh mẽ của ông từ những thước phim tài liệu sống động và xác thực đến không thể nào một ai chối bỏ được…”

Bruce Herschensohn, một người trong nhóm sản xuất đã xác nhận rằng lý do thực hiện phim này là để cân bằng với những ý kiến phê phán cuộc chiến trong dư luận Hoa Kỳ. Trong bối cảnh thay đổi xu hướng chính trị và tình hình thực tế tại Việt Nam, bộ phim đã bị cắt xén nhiều đoạn và bản đối thoại cũng như phân cảnh cũng bị thay đổi nhiều lần suốt trong thời gian ba năm thực hiện bộ phim và khi hoàn tất đã làm nhiều nhân vật chính trị không bằng lòng vì chính họ bị phê phán nặng nề trong phim. Bộ phim không được phổ biến có lẽ vì lý do ấy. Tổng giám đốc USIA Frank Shakespeare quyết định không cung cấp những bản sao chép bộ phim cho các tòa đại sứ Hoa Kỳ để phổ biến và chỉ giữ lại một bản chính mà thôi.

“Vietnam, Vietnam” là bộ phim tài liệu cuối cùng của đạo diễn John Ford(1894-1973), người đã đoạt 4 giải Oscars về điện ảnh năm 1936,1941,1942 và 1953 với các phim như The Informer, The Quiet Man… Năm 1973, ông nhận giải AFI Life Achievement Award và cùng nhận Presidential Medal of Freedom do chính tổng thống Richard Nixon trao tặng. Sự nghiệp điện ảnh của John Ford rất lớn. Ông đã sản xuất hay đạo diễn tổng cộng tới 144 phim trong đó có 8 phim tài liệu và 5 bộ phim truyền hình. John Wayne, tài tử cao bồi của những phim miền Viễn Tây đã đóng vai chính trong 24 phim và 3 bộ phim truyện truyền hình của John Ford. John Wayne cũng là người tán đồng với chủ trương can thiệp vào Việt Nam bằng chiến tranh của tổng thống Lyndon Johnson. Cũng như nhà văn được giải Nobel văn chương của Hàn Lâm Viện Thụy Điển John Steinbeckcũng cùng quan điểm về cuộc chiến tranh này qua Việt Nam viết bài gửi về Mỹ tán đồng với sự can thiệp quân sự trực tiếp của Hoa Kỳ. Ông đã gửi thư cho nhà thơ Nga nổi tiếng để tranh luận về chiến tranh Việt Nam và bênh vực quan điểm chính trị của chính phủ Hoa Kỳ.

Bộ phim này dài 58 phút là một tập trong bộ nhiều tập nhan đề “Vietnam: A Retrospective”, là một tài liệu về chiến tranh có giá trị và phản ánh được sự thực về cuộc chiến Việt Nam với cái nhìn khách quan, công bằngvà tôn trọng sự thực. Bộ phim chứng minh cho thấy lý do mà Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam, bởi vì thấy rõ được mưu đồ của Cộng sản quốc tế đứng phía sau yểm trợ cho Cộng sản Bắc Việt thôn tính miền Nam. Có những hình ảnh rất xác thực. Như cảnh người lính VNCH săn sóc vết thương của các tù binh Việt Cộng chứng tỏ tính cách nhân bản của người lính VNCH. Như hình ảnh cả một làng bị quân Cộng sản tàn sát, xác đàn bà và con trẻ ngổn ngang. Như hình ảnh người phi công tù binh POW Hoa Kỳ trong cuộc họp báo tố cáo là trong khi bị giam cầm dù bị tra tấn và hành hạ nhưng vẫn bị bắt buộc phải nói là được đối xử tử tế nhân đạo. Phim có những cảnh tượng đặc biệt quay cảnh cuộc biểu tình chống chiến tranh ở ngay thủ đô Sài Gòn do bọn phản chiến Hoa Kỳ và bọn Việt gian nằm vùng Cộng sản tổ chức thì có một người Hung Gia Lợi ở trong nhóm ký giả quốc tế đã nhào vào trong phim và chửi những kẻ đang biểu tình: “Tụi mày là đồ ngu ngốc mới làm công việc này bởi vì chúng mày chẳng có một tí gì hiểu biết về Cộng sản hết. Mọi người dân Việt Nam đều đáng được hưởng những huy chương cao quý vì đang là chiến sĩ chiến đấu cho tự do chống lại Cộng sản và người Mỹ nữa cũng đang tham dự vào cuộc chiến đó”. Những kẻ biểu tình đã không thể trả lời câu mắng chửi đầy chính nghĩa đó. Họ xấu hổ vì đã không hiểu biết rằng những người đang chiến đấu là những anh hùng mà những kẻ ngu ngốc đang biểu tình chống lại.

“Vietnam, Vietnam” có hai phần. Phần 1, nhan đề “Việt Nam, Người dân và cuộc chiến” giới thiệu dất nước Việt Nam qua những thước phim về những yếu tố căn bản về địa dư, về văn hóa, và về chiến tranh. Người quay phim đã thu hình về những người dân tị nạn chiến tranh, những trẻ thơ bị bỏng cháy vì bom đạn, những phụ nữ khốn khổ, những cảnh tàn sát tập thể người dân vô tội của các cán binh Bắc Việt “với sự chỉ đạo của Cộng sản Bắc Việt cùng với các lưc lượng võ trang của Việt Cộng miền Nam, mục tiêu là thống nhất đất nước và thôn tính miền Nam. Trong khi chính phủ VNCH thì tận lực chống đỡ lại âm mưu ấy.” Phim còn có những cảnh người vợ của tù binh POW với cố gắng vận động để cứu chồng cũng như hình ảnh sự can thiệp của Nga Xô Viết vào chiến tranh Việt Namvà cả hình ảnh biểu tình ở Mỹ mà người tham dự phất cờ đỏ sao vàng của Bắc Việt.

Phần thứ 2, là phần tranh luận của 12 nhân vật thuộc đủ mọi thành phần từ người dân thường đến các chính trị gia, chính khách có tầm cỡ. Họ thảo luận về cuộc chiến: Dean Rush, Reagan, Johnson, Mc Carthy, một người lính Mỹ, Fulbright, Sam Brown, một anh chàng hippy, một chiến sĩ Hung Gia Lợi chiến đấu cho tự do, một người Việt Nam diễn hành trong đêm, một người đã hát “Ngọn lửa vẫn còn cháy trong đêm 31 tháng 12 năm 1969, nhưng lửa vẫn soi sáng luôn luôn ánh sáng tự do hoặc sẽ tắt ngấm khi chúng ta không hiểu biết gì về nỗi niềm của thập kỷ này.” Phần 2 còn quay nhiều hình ảnh về những cuộc biểu tình phản chiến trên đất nước Hoa Kỳ.

Khi xem phim, quả thực từ âm thanh đến hình ảnh, từ bố cục đến phần diễn tả, đã lôi cuốn vào sự bất ngờ với những góc cạnh nhìn ngắm của người quay phim đầy nghệ thuật và khám phá. Nhất là chuyên chở được ý định của bộ phim nhưng vẫn giữ thái độ khách quan trung thực tôn trọng sự thực. Trong phim, người xem không tìm thấy những kỹ xảo vụn vặt của các phim tuyên truyền. Phim ảnh đã ghi lại sự thực bằng hình ảnh và mang theo cả tâm tư của những người trong phim. Thí dụ như cảnh các nạn nhân tại Huế đi tìm xác người thân chết trong biến cố Mậu Thân trong những mồ chôn tập thể có tới hàng ngàn bộ xương. Một đoàn người đi đưa đám ma mặc toàn màu áo trắng tang chế với những nét mặt đau buồn, những tiếng khóc ai oán đã gây nhiều xúc động cho người xem dù là người ngoại quốc chăng nữa.

Trong phần tranh luận về cuộc chiến, đã có nhiều câu nói đã được ghi nhớ và truyền tụng đến bây giờ. Như câu nói của cố tổng thống Reagan khi ông đề cập đến sinh mạng của những người lính Mỹ hy sinh trong cuộc chiến. Phim đã ghi chép lại câu nói đầy chất nhân bản này:

“Chúng ta đang tính việc đánh giá sinh mạng của người Mỹ xem giá trị bao nhiêu. Hãy thử vạch một lằn ranh phân biệt giữa hai bên sinh mạng của người Việt và người Mỹ. Nếu phải cứu một người lính Mỹ mà phải hy sinh tính mạng của một ngàn người Việt Nam thì sao? Tôi cho rằng mạng người là mạng người mà thôi. Một thực thể hiển nhiên nhất đã xảy ra là gần hai triệu người dân miền Bắc đã rời bỏ quê hương họ chạy về miền Nam để xa lánh chế độ Cộng sản. Đó có phải là dấu hiệu rằng chính phủ này đã không đại diện nguyện vọng của dân chúng?”

Hoặc câu nói về phương cách rút quân khỏi Việt Nam, làm thế nào để không gây ra những hậu quả không tốt cho đất nước và dân tộc Hoa Kỳ khi ông làm thống đốc tiểu bang California: “Chấm dứt cuộc chiến không chỉ đơn giản là công việc rút quân đội trở về nhà là xong. Bởi vì, cái giá phải trả cho loại hòa bình ấy là ngàn năm đen thẳm cho các thế hệ sinh tại Việt Nam về sau này.”

Câu nói ấy tới bây giờ vẫn còn chính xác!

Ngày 28 tháng 4 năm 2015, một bộ phim mới về chiến tranh Việt Nam được trình chiếu. Phim Last Day in Việt Namvới đạo diễn Rory Kennedy, con gái của cố Thượng nghị sĩ Robert Kennedy, người đã chủ trương phải chấm dứt chiến tranh Việt Nam và cũng là cháu của tổng thống John F. Kennedy người đã chủ trương can thiệp bằng quân sự vào Việt Nam. Đây là một phim tài liệu ghi chép lại những hoạt cảnh cuối cùng khi Hoa Kỳ rút khỏi cuộc chiến. Những trang sử bi thảm được giở lại với những nhân chứng kể lại những câu chuyện của ngày mà Mỹ rút khỏi Việt Nam khi quân Cộng Sản Bắc Việt đang tiến vào Sài Gòn.

Cuốn phim mang theo một thông điệp khá nhân bản tuy vẫn chưa nói hết được sự thực lịch sử. Chiến tranh Việt Nam chấm dứt như một kịch bản hoàn hảo của các thế lực ngoại cường quyết định. Như phim Việt Nam Viêt Nam của John Ford, người Mỹ đã vào đất nước này và tham dự cuộc chiến ra sao thì bây giờ với Last Day in Việt Nam thì người Mỹ đã thất hứa với đồng minh và chấm dứt cuộc chiến. Năm 1975, tổng thống Gerald Ford Cộng Hòa ở một thế hành pháp bị quốc hội dân chủ lấn áp nên bị bó tay và những quyết định cắt bớt quân viện trong khi phe Cộng sản lạigia tăng viện trợ khiến chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ.

Phim Last Day in Việt Nam mở đầu với những trang lịch sử Việt Nam với Hiệp Định Paris năm 1973 với những điều khoản ngưng bắn, trao trả tù binh và dần dần rút quân về nước. Và khi quân Cộng sản tiến vào Sài Gòn, cảnh hoảng loạn đã diễn ra và thấy được người dân Nam Việt Nam ghê sợ Cộng sản như thế nào. Cuộc di tản với nhiều cảnh tượng bi thảm từ Đà Nẵng tới Sài Gòn khiến khán giả có cảm giác Cộng sản như một dịch bệnh khủng khiếp.

Trong những cuộc phỏng vấn, các nhân chứng đã kể về những điều mà họ chứng kiến cùng những nhận xét. Như cựu đại úy Mỹ Herrington hồi nhớ lại những ngày trước đây 40 năm tả lại những cảnh hỗn loạn tại phi trường và chính ông đã giúp được nhiều người Việt Nam di tản. Dù tổng thống Nixon đã hứa với tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu là sẽ can thiệp oanh tạc Bắc Việt khi Cộng sản vi phạm hiệp định Paris nhưng năm 1974 thì vì vụ Watergate nên bị từ chức và tổng thống Gerald Ford lên thay ở trong thế yếu so với quốc hội Dân chủ nên bị bó tay. Sau khi cộng quân tấn công Ban Mê Thuột, Pleiku di tản và Đà Nẵng cũng di tản theo. Đại úy Harrington tố cáo sự tàn ác của quân Cộng sản và đối chiếu là phần phỏng vấn của Đại tá Hải quân VNCH Đỗ Kiểm nói về tình hình chiến cuộc ở Đà Nẵng. Vì sự thay đổi quyết định của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lúc tử thủ lúc di tản nên tình hình suy đồi một cách nhanh chóng. Phim chiếu những cảnh hỗn loạn ở phi trường Đà Nẵng, máy bay chưa đáp xong đã phải cất cánh vì đã đầy người. Tổng thống Ford cho biết khoảng 150 đến 170 ngàn quân lính Cộng sản Bắc Việt đang tiến quân chiếm miền Nam Việt Nam và hiện ở Đà Nẵng có gần nửa triệu người tị nạn đổ về phía Nam hướng Sài Gòn.

Tổng thống Ford đề nghị quốc hội chấp thuận ngân khoản 722 triệu mỹ kim khẩn cấp để cứu Miền Nam nhưng bị bác bỏ. Nhiều dân biểu cho rằng nước Mỹ đã chi tiêu hàng tỉ đô la cho chiến tranh VN mà vẫn không có kết quả thì với 722 triệu thì có kết quả gì. Chính ngoại trưởng Kissinger cũng tuyên bố 722 triệu không giải quyết được tình thế nên chỉ còn cách tổ chức di tản để có thể rút ra khỏi Việt Nam.

Last Day in Việt Nam nói về kế hoạch di tản, khởi đầu chỉ dự trù rút người Mỹ mà không bốc người Việt Nam. Ngày 29 tháng 4 năm 1975, ở Sài Gòn đầy những tin đồn về cuộc di tản. Chỉ còn có khoảng hơn 5 ngàn người Mỹ và họ có một số thân nhân người Việt là ưu tiên cho cuộc di tản. Lãnh sự Mỹ tại Cần Thơ của quân khu 4 cũng nói về kế hoạch di tản. Ở tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, quang cảnh thật là bi thảm nhưng cũng may là không có chuyện gì đáng tiếc. Theo như kế hoạch trực thăng vận, từ hạm đội ngoài biển Đông, các trực thăng bay vào và bốc người đi. Từ các địa điểm tập trung rồi vào Tòa Đại sứ nên khuôn viên nơi đây tràn ngập những người chờ được di tản.

Đại tá hải quân VNCH Đỗ Kiểm cũng nói về cuộc di tản của hạm đội VNCH với tổng số là 32 chiến hạm ra khơi. Tất cả những tàu khả dụng đều được lệnh rời khỏi Việt Nam. Hai nhân chứng cũng được phỏng vấn là Trung úy HQ Phạm hữu Đàm và sinh viên Phó Đức Bình cũng kể lại những câu chuyện vềngày cuối tháng Tư tại Tòa đại sứ Mỹ.

Phim quay cảnh ngoài hạm đội Mỹ, cảnh các trực thăng đáp xuống khu trục hạm USS Kirk, cảnh tàu trực thăng bị đẩy xuống biển để lấy chỗ trống cho tàu khác đáp, cảnh lính Mỹ khám và tước vũ khí của người lính Việt. Tổng cộng có 17 trực thăng của KQ/VNCH đáp xuống chiến hạm này.

Phi công đại úy Nguyễn Văn Ba lái chiếc trực thăng Chinook CH47 trong đó chở vợ con và những người quá giang không còn đủ nhiên liệu để bay xa hơn xin đáp xuống USS Kiek. Phi cơ quá lớn không thể đáp được nên ông đã “hover” trên sàn tàu để mọi người nhảy xuống được các thủy thủ đỡ rồi ông cho chiếc trực thăng lật ngửa trên mặt biển rồi cùng một lúc phóng xuống mặt nước lặn xuống bơi ra xa và thoát hiểm. Đây là một cảnh sinh động trong phim.

Phim cũng quay lại cảnh hỗn loạn tại khuôn viên tòa đại sứ Mỹ. Chính ông đại úy Mỹ phụ trách an ninh tòa đại sứ Herrington đã tuyên bố với mọi người là tất cả sẽ được di tản hết không ai bị bỏ lại.

Ở ngoài biển, những con tàu dân sự lớn cũng chở đầy những người tị nạn. Có những cố gắng để cứu giúp thêm trong việc vớt những người tị nạn từ những ghe nhỏ. Ở Sài Gòn, phim quay cảnh chiếc trực thăng cuối cùng rời khỏi tòa đại sứ. Cảnh hôi của, cảnh hỗn loạn trên đường phố. Lúc đó, quân Cộng sản tiến vào thủ đô Sài Gòn, tổng thống VNCH Dương Văn Minh bị buộc phải tuyên bố đầu hàng. Phim quay lại những cảnh tượng bi thảm của người lính VNCH thua trận.

Đại tá Đỗ Kiểm nói về lễ hạ cờ trên hạm đội khi các tàu chiến vào hải phận Phi Luật Tân. Chính phủ nước này sợ xích mích với Cộng Sản Việt Nam nên bắt hạ cờ VNCH và treo cờ Mỹ mới cho cập bến.

Cảnh cuối cùng của phim là cảnh 11 người lính TQLC Mỹ chờ trực thăng tới đón vào lúc gần 8 giờ sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975. Họ giã từ Việt Nam và để lại 420 người Việt bị bỏ rơi trong khuôn viên tòa đại sứ. Thượng sĩ Juan Valdez là người sau cùng lên trực thăng. Ông đếm lại nhiều lần để chắc chắn rằng không bỏ sót lại một người lính nào trong toán của ông.

Phim tài liệu nên phần phỏng vấn các nhân vật lịch sử là chính yếu. Các nhân vật này nói về những diễn tiến lịch sử qua vài phút nên khó mà đầy đủ chi tiết và khán giả khi xem cũng hơi bị khó khăn khi theo dõi. Cũng như cuốn phim còn thiếu những diễn tiến khác như các tướng lãnh VNCH tự sát, hoặc nhữngcảnh chiến đấu giờ thứ 25 của quân lực VNCH, để cân bằng với những cảnh hỗn loạnđượcchiếu.

Những nhân chứng được phỏng vấn là ngoại trưởng Kissinger, phân tích gia CIA Frank Snepp, cố vấn Richard Amtage, cựu đại úy Hugh Doyle, cựu hạm trưởng Paul Jacob của khu trục hạm USS Kirk, cựu đại úy Stuart Herrington, người phụ trách an ninh tòa đại sứ Mỹ, một số quân nhân Mỹ canh gác tòa đại sứ: thượng sĩ Juan Valdez, binh nhi Mike. Đại tá Đỗ Kiểm, trung úy Phạm Hữu Đàm, sinh viên Phó Đức Bình là nhân chứng phía VNCH. Phạm Hữu Đàm bị bỏ lại, đi tù và13 năm sau mới tới Mỹ. Phó Đức Bình bị bắt giam một năm sau năm 1979 vượt biên và tới Mỹ.

Phần kết của phim là bài hát buồn bã và giọng nói sầu của đại úy Herrington: “Because we didn’t acted together. There were thousands and thousands of America who served in Việt Nam, who is setting at home hearts broken at watching this whole thing comes to none”

Những ngày cuối tháng Tư năm 1975 là những vết đen của lịch sử Hoa Kỳ. Nó là nguyên nhân hay hệ quả để chấm dứt một cuộc chiến?

Nguyễn Mạnh Trinh.

Be the first to comment

Leave a Reply