Văn minh và khoan nhượng

Carlos Downell là một người vô gia cư nổi tiếng tại Hoa Kỳ. Thật ra tên tuổi của ông chỉ được nhắc đến sau khi ông qua đời. Ông chết ngày 18 tháng Bảy năm 2012, khi được 58 tuổi. Sau khi ông ra đi người ta đã thu thập được những suy tư vụn vặt của ông và cho xuất bản dưới tựa đề: “Lạc lõng trên nước Mỹ: những suy tư về cuộc sống không nhà” (Lost in Ameria: Essays on Homelessness). Phần lớn những suy tư này được ông Downell viết trong nhà tù, thường là trên những mảnh giấy vệ sinh hay giấy lau mặt. Qua những suy tư ấy, ông Downell đã giải bày một cuộc sống vô cùng khốn khổ. Và nỗi đau mà ông đã nói lên được cũng chẳng khác bao nhiêu so với số phận của hàng trăm ngàn người mỗi đêm phải ngủ bờ ngủ bụi hay trên hè phố tại Hoa Kỳ hay bất cứ ở đâu.

Cô đơn có lẽ là điều khủng khiếp nhứt đối với người không nhà không cửa. Downell tâm sự: “Đôi khi tôi phải khóc. Để khóc tôi phải trùm mền, thu mình lại, nhắm mắt và khóc. Trong thinh lặng, tôi khóc với chính mình. Lúc nhỏ tôi đã học được cách khóc không ra tiếng. Tôi học khóc như thế vì khi tôi còn nhỏ, nếu bà tôi nghe tôi khóc trong phòng, bà sẽ la lên: “Mày có nín không hay là tao sẽ vào phòng mày để làm cho mày nín khóc”. Tôi đã không được phép khóc. Chính vì vậy mà, cũng như tôi đã học được nhiều điều khác, tôi cũng đã học khóc trong thinh lặng, với chính mình”.

Con đường dẫn đến cuộc sống vô gia cư và tù tội của Downell có lẽ cũng giống như những hoàn cảnh đã đẩy đưa không biết bao nhiêu người vào cuộc sống không nhà. Bỏ nhà ra đi, ăn cắp vặt trong các cửa tiệm, tập uống rượu, lạm dụng thuốc ho sirô và cuối cùng là cần sa và ma túy…tưởng đó là những thứ giúp mình thoát khỏi cô đơn, nhưng càng nghiện ngập và lún sâu vào cuộc sống vô gia cư, Downell  càng cảm thấy  cô đơn và tuyệt vọng.

Trong một đoạn khác, ông viết: “Đôi khi tôi khóc và không hiểu tại sao tôi khóc. Đôi khi tôi hiểu. Đôi khi tôi chỉ chơi đàn tây ban cầm. Đây là đường giây trực tuyến của tôi với Thượng Đế. Đây là điện thoại “nguyên tử” của tôi. Tôi đã lạc mất trong sa mạc quá lâu. Tôi đã ở trong sa mạc suốt cuộc đời tôi. Xin hãy đem mưa đến cho tôi” (x.www.psychologytoday.com/blog/the-existential-shrink/201707/lost-in-america).

“Mưa” mà con người khốn khổ này nói đến là những giọt nước mắt của chính mình mà ông cho là có sức thanh tẩy và chữa trị. Nhưng “mưa” mà sa mạc cõi lòng của ông cần đến có lẽ cũng là sự cảm thông của người đồng loại.

Có lẽ hơn bất cứ một sự giúp đỡ nào, điều mà những người vô gia cư như ông Downell cần đến nhiều nhứt chính là thái độ khoan nhượng và cảm thông. Cái nhìn thông thường của nhiều người đối với những người vô gia cư thường là khinh miệt và lên án. Ngày ngày xách cập đi làm, chạm trán với những người ngồi trên hè phố van xin một đồng xu nhỏ để sống qua ngày, người ta chẳng nghĩ trong bụng rằng đó là hạng người lười biếng, chỉ biết hút xách và sống dựa vào người khác đó sao. Có ai hiểu được nỗi cô đơn đang gậm nhấm tâm hồn của những kẻ mà hoàn cảnh đã đưa đẩy vào con đường cùng như thế không?

Nhiều lúc tôi cũng có cái nhìn đầy thành kiến và miệt thị như thế đối với những người vô gia cư và những người nghiện ngập. Những lúc một cái nhìn như thế lóe lên trong ánh mắt của tôi, tôi cảm thấy như nhân cách của mình bị thui chột đi một phần nào. Với tôi, không gì hạ giảm nhân cách cho bằng thành kiến, thái độ bất khoan nhượng và thiếu cảm thông.

Hôm nay 14 tháng Bảy (quen gọi bằng tiếng Pháp là Quatorze Juillet) là ngày Quốc khánh của Pháp quốc. Tôi không thể quên ngày này vì Pháp là trạm dừng chân đầu tiên của tôi trong bước đường tỵ nạn. Tôi đã chọn Pháp làm nơi để đặt chân đến trước tiên trong thế giới tự do bởi vì muốn hay không, ít hay nhiều, tôi cũng đã thấm nhuần văn hóa Pháp. Từ cách suy nghĩ, diễn tả và ngay cả trong việc tuyên xưng và thực hành niềm tin tôn giáo của mình, cho tới giờ phút này tôi thấy mình vẫn không thể nào ra khỏi cái khung của văn hóa Pháp. “Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” đã nhào nặn tôi với những “nhân nghĩa lễ trí tín” của Khổng giáo. Nhưng “một trăm năm đô hộ giặc Tây” cũng đã để lại một dấn ấn khó tẩy xóa trong bản sắc của tôi.

Chế độ thực dân của Pháp và bao nhiêu nếp hằn trên dân tộc tôi đã trở thành lịch sử. Tôi không thể ngồi đó mà nguyền rủa quá khứ. Ngày hôm nay tôi nhớ đến nước Pháp và bày tỏ lòng biết ơn với đất nước này vì đã mở rộng vòng tay để đón nhận tôi, cho tôi được hít thở không khí tự do và nhứt là tập cho tôi biết sống tinh thần khoan nhượng và cảm thông.

Cuộc Cách mạng ngày 14 tháng Bảy năm 1789 không chỉ là ngày phá ngục Bastille, không chỉ gợi lên một thời kinh hoàng tiếp theo sau đó, mà thiết yếu là hô lớn 3 chữ :Tự do, Bình đẳng và Huynh đệ. Cuộc cách mạng ấy cũng không bùng nổ một cách tự phát mà đã âm ỉ từ nhiều thập niên trước với phong trào thường được gọi là “Thế kỷ Ánh sáng” (Siècle des Lumières hay gọi bằng Anh ngữ là Age of Enlightment). Một trong những nhà tư tưởng nổi bật nhứt trong thời kỳ khai sáng này là Francois Marie Arouet (1697-1778) thường được biết đến dưới bút hiệu Voltaire. Ông đã hai lần bị giam vào ngục Bastille chỉ vì tranh đấu cho quyền tự do tư tưởng và ngôn luận của con người. Ông được gán cho một câu nói thời danh: “Tôi không tán thành điều bạn nói, nhưng tôi sẽ tranh đấu cho tới chết  để bảo vệ quyền được nói điều đó của bạn”. Đây chính là tư tưởng cốt lõi của Phong trào “Thế kỷ Ánh sáng”. Các triết gia của thời kỳ này đứng lên chống lại chế độ quân chủ độc tài cũng như tinh thần bất khoan nhượng của Giáo hội Công giáo vào thời đó.

Cuộc Cách mạng năm 1789, một cách nào đó, cũng là cuộc cách mạng của tự do và tinh thần khoan nhượng. Pháp đã tặng cho Hoa Kỳ bức tượng Nữ thần Tự Do để khẳng định tinh thần khoan nhượng ấy, bởi vì Nữ thần Tự Do là biểu tượng của Tự do, Công lý và Dân chủ. Những ý niệm nền tảng ấy không thể đứng vững được nếu không có tinh thần khoan nhượng.

Ngày 14 tháng Bảy hằng năm, tôi thấy mình phải biết ơn nước Pháp. Dù chỉ là một trạm dừng chân ngắn ngủi của tôi trong đời tỵ nạn, Pháp quốc đã mở ra cho tôi cánh cửa của tự do và khơi dậy nơi tôi tinh thần khoan nhượng và cảm thông. Bỏ nước ra đi, người Việt tỵ nạn chẳng tìm đến Trung Cộng, chẳng gõ cửa Liên Xô hay Nga hoặc bất cứ quốc gia Hồi Giáo nào. Chúng ta tìm đến các nước Tây Phương. Ngày nay, làn sóng tỵ nạn từ nhiều nước Trung Đông hay Phi Châu, Afghanistan, Miến Điện…cũng chỉ muốn được định cư tại một nước Tây Phương. Dĩ nhiên, tại các nước Tây Phương, người tỵ nạn sẽ có được một cuộc sống ấm no, đẩy đủ đã đành, họ cũng hưởng được không khí tự do và cũng như tôi, họ cảm nhận được thế nào là khoan nhượng và cảm thông.

Văn minh Tây Phương cũng chính là văn minh của khoan nhượng và cảm thông. Nền văn minh ấy sẽ chết nếu khoan nhượng và cảm thông không còn là hơi thở của các nước Tây Phương. Bảo tồn nền văn minh Tây Phương cũng chính là đề cao và bảo vệ những giá trị ấy.

Trong chuyến đi Âu Châu vừa qua để tham dự Hội nghị Thượng đỉnh khối G20 của các nước có nền kinh tế mạnh nhứt thế giới hiện nay, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã chọn Ba Lan làm trạm dừng chân đầu tiên của ông. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Tôi hiểu lý do tại sao tổng thống Mỹ chọn Ba Lan làm bãi đáp đầu tiên ở Âu Châu. Trong Liên Âu, Ba Lan, một quốc gia toàn tòng công giáo,  hiện đang đi ngược lại đường lối chung của khối để không nhận người tỵ nạn. Đương kim Tổng thống Ba Lan, ông Andrzej Duda, cũng bài ngoại, chống di dân, nhứt là người Hồi giáo như Tổng thống Trump. Trong bài diễn văn đọc tại Ba Lan, Tổng thống Trump đã nhắc đến hai chữ “Tây Phương” 10 lần và “văn minh của chúng ta”, tức văn minh Tây Phương 5 lần. Ông đặt câu hỏi: “Vấn đề căn bản của thời đại chúng ta là liệu Tây Phương có còn ý chí để sống còn không. Chúng ta có tin tưởng vào những giá trị của chúng ta để bằng mọi giá phải bảo vệ chúng không? Chúng ta có tôn trọng đủ các công dân của chúng ta để bảo vệ biên giới của chúng ta không? Chúng ta có ước muốn và can đảm để bảo tồn nền văn minh của chúng ta trước những kẻ muốn đảo lộn và phá hủy nó không?”

Với tôi, văn minh Tây Phương không chỉ là Kitô Giáo, là những ngôi thánh đường nguy nga, là nhạc cổ điển và nhứt là không chỉ là kỹ thuật và khoa học. Văn minh Tây Phương ngày nay có lẽ cũng chẳng còn là văn minh của riêng người da trắng. Một nước Tây Phương như Hoa Kỳ có lẽ cũng chẳng còn là một nước của riêng người da trắng. Ở mãi miệt dưới như Úc Đại Lợi, dù có được xem như một nước Tây Phương đi nữa, người da trắng cũng không còn là đa số  và Kitô Giáo cũng chẳng còn là tôn giáo nổi trội nữa. Nhưng những giá trị nền tảng làm nên một nước Úc Đại Lợi đa văn hóa và bảo tồn nền văn minh Tây Phương vẫn còn đó. Và cốt lõi của những giá trị đó chính là tinh thần khoan nhượng.

Với tôi, không có khoan nhượng thì cũng chẳng có văn minh. Tôi nghĩ một cách đơn giản như thế khi nghĩ đến mấy ông bà cộng sản Việt Nam. Miệng họ lúc nào cũng ra rả kêu gọi xây dựng “nếp sống văn minh”. Ra khỏi bưng biền rừng rú, họ cũng biết chưng diện như người Tây Phương. Các lãnh đạo của họ cũng có mặt trong các Hội nghị Thượng đỉnh của thế giới. Nhưng họ có thực sự “ngang tầm thời đại” về văn minh chưa?

Mới đây, Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, người đồng hương Nha Trang của tôi bị những người cộng sản Việt Nam kết án 10 năm tù chỉ vì  thực hiện một trong những tự do căn bản nhứt là quyền được bày tỏ ý kiến của mình. Tôi cho đó là một hành động thiếu văn minh. Bởi lẽ chỉ có những người xài luật rừng mới cư xử với người đồng loại của mình như thế. Xét cho cùng, tất cả mọi chế độ độc tài đều là những chế độ thiếu văn minh.

Tôi không ủng hộ những cuộc biểu tình bạo động chống lại các hội nghị thượng đỉnh của các nhà lãnh đạo quốc gia. Nhưng nhìn vào một số những gương mặt đại diện cho các nước thuộc câu lạc bộ của khối G20  và một số người được mời tham dự Hội nghị Thượng đỉnh vừa qua ở Hamburg, Đức, tôi chỉ thấy xót xa. Không hiểu sao  sự hiện diện của Thủ tướng cộng sản Nguyễn Xuân Phúc, của Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip và nhứt là Chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Cộng và của Tổng thống Nga Vladimir Putin…chỉ gợi lên trong tôi  hình ảnh của dùi cui, báng súng, nhà tù và bao nhiêu nhà bất đồng chính kiến đang bị giam giữ.

Với tôi, “thực hiện nếp sống văn minh” trước tiên là phải biết chấp nhận và tôn trọng những khác biệt của người khác và nhứt là biết cảm thông đối với những người khốn khổ xung quanh mình. Người văn minh thực sự thiết yếu phải là người biết sống khoan nhượng và cảm thông.

Và tận cùng của cảm thông và khoan nhượng chính là tôn trọng và bảo vệ Quyền của mỗi một con người được sống như một Con Người.

Chu Thập

 

 

Be the first to comment

Leave a Reply