Văn Nghệ Sĩ Binh Chủng Nhảy Dù

Chúng ta có thể nào nhìn cuộc chiến qua chân dung những người lính? Bởi vì, từ đời sống ấy, tâm tư ấy, có thể mường tượng được một thời đại mà họ đang sống, đang chiến đấu. Với ý nghĩ ấy, chúng tôi lần lượt đi tìm những chân dung đích thực của những người lính VNCH Biểu hiện qua những người làm văn nghệ. Từ người lính KQ của không gian, đến người lính HQ của sông nước, đến những người lính cọp biển TQLC hào hùng, qua nhiều chương trình, bây giờ chúng tôi xin phác thảovài nét về những nhà văn nhà thơ nhạc sĩ của binh chủng Nhảy Dù. Dĩ nhiên chỉ vài nét phác thảo thôi bởi vì rất nhiểu nghệ sĩ tài hoa khoác bộ chiến y của binh chủng vang danh thiện chiến bậc nhất của đội quân cả một triệu chiến sĩ dưới cờ tài hoa có nhiều đóng góp cho văn chương của dân tộc.

Trong thời đại chiến tranh, hầu như mọi người trai trẻ đều ở trong quân đội. Và hầu như tất cả tinh hoa của dân tộc trong thời kỳ ấy đều mang áo lính. QLVNCH có nhiều quân chủng binh chủng. Tại sao tôi đề cập đến chân dung người lính theo màu cờ sắc áo. Đó có phải là sự phân biệt không?

Thực tình, tôi nghĩ đó không phải là sự phân biệt. Trái lại đó là một cách xử dụng cái riêng để làm nổi bật cái chung. Từ đặc điểm của mỗi quân binh chủng để làm rõ nét hơn cái hào hùng của một tập thể quân đội. Từ sự thực đóng góp từ những phần riêng để tạo thành cái tổng thể đầy phong phú. Hôm nay chúng ta nói về những người lính nhảy dù làm văn nghệ để phác họa lại một đời sống thực của họ, những người lính chiến đấu ở trực diện chiến trường. Và qua đó, thấy được một thời thế quá sức là đặc biệt của đất nước dân tộc Việt Nam. Họ đã làm thơ, viết văn, soạn nhạc, tôi nghĩ ở trong một trạng thái không viết không được. Công việc làm văn nghệ, viết văn chương là một hành động từ kết quả của bức xúc tồn tại trong đời, cần phải biểu lộ ra những dằn vặt, những u uất tích chứa trong óc trong tim. Những nghệ phẩm, là biểu hiện cho tim óc cho gan ruột của những người lính chiến ở tuyến đầu trong một cuộcnội chiến ác liệt mà cả hai bên là nạn nhân của tham vọng không tưởng của một chủ nghĩa ngoại lai đi ngược lại xu hướng tiến bộ của loài người.

Đề cập đến những lý do khiến tôi muốn tản mạn về những người lính chiến nhảy dù viết văn làm nhạc làm thơ của văn học Việt Nam, tôi thấy trả lời những câu hỏi ấy không phải đơn giản.

Từ nhận xét của mình từ lúc ấu thơ đến khi trưởng thành, tôi vẫn nhìn người lính nhảy dù như một thần tượng của mình. Cái hình tượng mũ đỏ áo sau tạo cho tôi một vóc dáng hào hùng. Tôi nhớ lúc học đệ thất đệ lục tôi đã chép những bài thơ có thi pháp rất tự nhiên bình dị của một người lính trẻ của binh chủng nhảy dù thời đó là Hồ Tấn Dần vào cuốn vở bìa cứng chép thơ ở những trang đầu tiên. Bây giờ tôi chỉ còn nhớ lõm bõm những câu thơ như:

“ngày tôi đi sương mờ giăng chợ tỉnh.

Đèo Hải Vân mây trắng vẫn thiên thu

Mười tám tuổi đi mặc áo nhảy dù

Tôi vẫn nhớ ngày đầu tiên vào lính”

 

Tôi không nhớ là đã chép những bài thơ như thế xuất xứ từ đâu nhưng tôi biết là từ thuở ấy tôi đã yêu màu áo hoa mũ đỏ. Không hiểu bây giờ nhà thơ Hồ Tấn Dần lưu lạc ở đâu, nhưng nếu gặp lại, tôi sẽ nói một câu cám ơn ông về những câu thơ mà từ lâu lắm, tôi đã yêu, đã nhớ và đã trân trọng trong suốt cả đời của tôi như một kỷ niệm đẹp…

Về sau này tôi vào lính KQ. Nhưng tôi vẫn tìm được ở người lính nhảy dù nét thần tượng của ngày xưa. Dù sự thực đã làm cho tôi thấy được nhiều sự việc khác. Sự thực là những gian khổ của chiến trường, của sự hy sinh của những người lính ở tiền tuyến hứng chịu đầu sóng ngọn gió. Họ viết thiên anh hùng ca bằng máu và mồ hôi nước mắt chiến trường. Bạn bè cùng trang lứa với tôi trong binh chủng nhảy dù đã có nhiều người gục ngã. Có lúc gặp nhau tình cờ, tâm sự với nhau. Để hiểu thêm được cuộc đời và biết rằng đôi khi những người có công chưa chắc đã được hưởng phần tưởng thưởng mà còn vấn vương đâu đó những vướng mắc tầm thường của bất công…

Với tôi, với hiểu biết của một người cũng trong quân ngũ, tôi thấy người lính nhảy dù là một chân dung chiến sĩ tuyệt hảo, đầy nét nhân bản. Và tôi tìm được ở trong âm nhạc trong văn chương những vóc dáng như thế…

Là một sự tình cờ. Tôi chợt nghe một bài hát trong nhiều lần và nhiều hoàn cảnh khác nhau. Nhưng đặc biệt, lúc nào cũng tạo cho tôi những liên cảm gần giống nhau. Nó nhắc lại cho tôi những cảm giác cũ, những suy niệm xưa…

Từ một bài hát? Như thế nào mà tạo cho tôi cảm xúc như vậy?

Bài hát “Một ngày mũ đỏ… Một đời mũ đỏ” của một bác sĩ thuộc binh chủng nhảy dù Phạm Gia Cổn. Tôi đã lắng nghe bài hát ấy trong nhiều trường hợp. Có khi, tôi nghe từ một người lính nhảy dù thứ thiệt hát với cả sự say sưa trong một buổi họp mặt, có khi tôi lại nghe từ một ca sĩ có giọng nam cao khỏe hát. Bài hát có những ngôn từ đẹp của những vần thơ (Hình như là phổ nhạc từ thơ của một thi sĩ cũng đã phục vụ trong binh chủng nhảy dù là Hà Huyền Chi? Tôi không rõ lắm. Chắc phải hỏi lại nhạc sĩ?):

Không là gió mà vẫn bay theo cánh gió

Không là mây mà ngạo nghễ đường mây

Một ngày nhảy dù, một đời mũ đỏ

Giữa không gian còn lưu lại dấu giày…”

 

Có thể là một hùng ca của chiến sĩ nhưng cũng có thể là một tâm ca của người luôn ôm ấp tâm tình yêu nước mà cũng có thể là lời khẳng khái của một người lãng mạn của kiếp sống bềnh bồng theo mây gió lưng trời. Có người nói nếu không từng lướt gió đè mây thì làm sao hiểu được tâm cảm của những người đã từng có những phút giây đặc biệt như thế. Điều ấy chưa hẳn đúng. Bởi vì, khi đọc những bài thơ, nghe những bản nhạc, sức truyền cảm của những áng văn chương ấy có thể tạo được nỗi niềm rung cảm sâu xa. Từ những người phi công bay lượn đường mây đến người lính nhảy dùkhông gian cònvương lại dấu giày, một không gian rộng lớn như mở ra với những cảm giác con người như lớn hơn, tầm nhìn như bao quát hơn khi nhìn xuống đời sống đang tiếp diễn ở dưới thấp kia…

Không Gian Vương Dấu Giày? Hình như có ai đã nói câu nói thật nhiều ảnh tượng ấy?

Đó là nhà thơ Hà Huyền Chi đã đặt tên bài thơ mà đầu tiên là “Người Lính Nhảy Dù và Mây” sau đổi thành “ Không Gian Vương Dấu Giày”.

Tên tuổi Hà Huyền Chi khá quen thuộc trong giới văn nghệ.

Ông là một nhà văn, một nhà thơ, một nhà báo, và đặc biệt là một diễn viên điện ảnh nữa. Ông cũng là một người lính, một văn nghệ sĩ quân đội xuất thân từ khóa 14 trường Võ Bị Đà Lạt và khi ra trường đã tình nguyện gia nhập binh chủng nhảy dù. Ông đã in 8 truyện dài, và hơn hai chục tập thơ. Hiện ông vẫn còn làm thơ rất sung mãn tràn đầy sinh lực dù đã 75 tuổi già. Thơ của ông cũng được nhiều nhạc sĩ cảm hứng sáng tácnhư Trần Trịnh, Anh Bằng, Phạm Duy, Song Ngọc, Vũ Thành An, Vũ Đức Nghiêm…

Từ những chân dung đa diện, thi ca của ông biểu lộ được một thời thế chiến tranh mà những người trai trẻ lớn lên và trưởng thành từ nhiệm vụ người lính của mình.

Phác họa những mẫu người trai trẻ thời chiến thơ ông viết về người lính nhảy dù tạo ra cho độc giả nhiều cảm xúc. Một chút hùng tráng, một chút mơ mộng, một chút hãnh diện, một chút xao xuyến tâm tư, tất cả là hứng cảm để có những bài thơ độc đáo cho thi sĩ. Nếu nói người lính nhảy dù Hà Huyền Chi làm thơ trong men say cảm giác thì cũng chẳng phải ngoa ngôn. Thơ của ông có cái bừng bừng của ngọn lửa đang bốc trong óc não.

Như bài thơ “Người lính nhảy dù và Mây” đăng trên nguyệt san Chiến Sĩ Cộng Hòa năm 1960 sau đổi tên thành Không Gian Vương Dấu Giày:

“Từng chuyến từng chuyến bay

Nói lên nhiều thương nhớ

Dù chĩu nặng vai gầy

Tim rung từng nhịp thở

Hoa dù hoa dù nở

Lòng trai lòng trai say

trời cao vun vút gió

xóm làng mờ chân mây

Từng chiếc lại từng chiếc

hoa dù nở trong mây

Hồn tôi ai chắp cánh

Không gian vương dấu giày.”

Chúng ta hãy thử tưởng tượng. Con người bé nhỏ làm sao và cũng to lớn làm sao trong cái cao rộng của trời đất. Trong cảm giác chênh vêng giữa nhỏ vô cùng và lớn không tả được, là cảm giác của con người. của tâm tư những người lính đang say men lãng mạn bềnh bồng trong cái vô thức của cuộc sống…. Tôi đang cảm thấy mình cũng đang phiêu du trong cảnh giới của người thi sĩ đang lao mình vào không gian cho những cánh dù tung gió…

Chắc người lính nhảy dù ấy cũng lãng mạn lắm. Và có khi nào đang ở trên lưng trời mà nghĩ đấn ai kia. Một người emgái, một người tình bé nhỏ xinh xinh chẳng hạn…?

Điều ấy là dĩ nhiên. Như bài “Sao Đêm” mà Hà Huyền Chi viết:

“trong túi hành trang còn thiếu thư em

và nhịp lòng tôi sầu muộn chưa quen

những chuyến đi dài bao nhiêu thương nhớ

Sài Gòn ngủ mơ thấp thoáng ánh đèn

Thân tàu mây vương lắc lư đường trăng

Tôi tìm đâu đây một vết sao băng

Để nghĩ về em nhiều đêm không ngủ

Bóng gầy ưu tư đôi mắt thâm quầng

Điếu thuốc truyền tay gắn trên môi nhau

Mắt thoáng âu lo nhìn cuối thân tàu

Ngọn đèn yêu tinh màu xanh bật sáng

Từng hồi chuông ngân rờn rợn da đầu

Vòm trời ngả nghiêng loáng chân mây xa

Ô hay tàu trôi theo sông Ngân Hà

Phóng mình tôi bay qua khung cửa nhỏ

Nghe mình chơi vơi lưng dù nở hoa…”

Thơ của đời thường mà sao như có gì của mơ mộng kết thành. Thơ hiện thực từ những giây phút sống thực của những người chiến sĩ Nhảy dù? Đời sống ấy, phải có thi ca ấy và tâm tư ấy. Chắc nhiều nhà thơ áo hoa mũ đỏ cũng cùng tâm trạng và cũng cùng có những bài thơ độc đáo?

Đúng thế, rất nhiều nhà tho của binh chủng Nhảy Dù với những nét độc đáo riêng. Như bác sĩ tiền tuyến thâm niên của binh chủng Nguyễn Văn Y với bài thơ Khi Cánh Dù Bay:

“Đợi những phút hào hùng vừa kịp đến

Những chàng trai kiêu hãnh áo hoa dù

Từ phi cơ trên mây gió thâm u

Họ lướt gió tung mây khi dù nở

Áo sao trận rợp trời và nón đỏ

Hoa dù là hoa chiến thắng em ơi.”

Hoặc bài thơ cuối của tập Hoa Dù:

“Hoa Dù nhật ký viết bằng thơ

Ghi lại bao nhiêu chiến trận xưa

Kỷ niệm oai hùng đời chiến sĩ

Chiến công rạng rỡ dưới màu cờ

Vinh danh đồng đội đã hy sinh

An ủi anh em ở ngục hình

Thương tiếc một thời oanh liệt cũ

Niềm vui hãnh diện lúc quang vinh”

Hay nhà thơ Thế Hoài Trần Hoài Châu từng chỉ huy đại đội trinh sát Nhảy Dù nổi danh cũng có những vần thơ cảm khái:

“mười hai năm làm lính

chín năm đi nhả dù

qua bao nhiêu chiến dịch

đẹp như mây mùa thu

hôm nay ngoài biên giới

Ngaỳ mai về Gio Linh

Thương yêu là hình ảnh

Vẫn nhớ chuyện chúng mình

Thành đô nhiều màu sắc

Tình đời lắm đổi thay

 người yêu là lính chiến

Xa cách bao tháng ngày

Anh ở ngoài chiến trận

Trực diện với quân thù

Thương nhớ người ở lại

Chỉ còn những tờ thư.

Có người yêu mũ đỏ

Với tình yêu thiên thần

Là người yêu mũ đỏ

Mang thật nhiều gian truân. .”

Có những ý nghĩ cho rằng nhữngthi sĩ Nhảy dù là mẫu người lãng mạn, dù đời sống thực đầy gian nan nguy hiểm nhưng trái tim thì rất mực hào hoa…?

Đó là một nhận xét mà nhiều người đồng ý. Là chiến sĩ nhưng là một nghệ sĩ, sống với họ là một nghệ thuật để đời sống được thăng hoa. Lúc là người lính, chiến đấu hào hùng nhưng khi là một người bình thường lại có trái tim mở rộng đầychất nhân bản và lãng mạn mơ mộng…

Nhảy Dù Cố gắng. Đó là châm ngôn của binh chủng thiện chiến bậc nhất của QLVNCH. Và hình như châm ngôn ấy cũng bàng bạc trong từng tác phẩm của các nhà văn nhà thơ áo hoa mũ đỏ. Đặc tính ấy rõ nét trong từng đoạn văn từng câu thơ. Cố gắng để chiến thắng, để vượt qua những nghiệt ngã, những cay đắng của cuộc sống. Cố gắng để đạt tới đích toàn thiện toàn mỹ, Cố gắng để làm rỡ ràng hơn cía chính nghĩa của những người bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ tự do, chống lại chủ nghĩa phi nhân độc đoán. Từ phần trước chúng tôi đã đề cập tới những chân dung thi sĩ. Bây giờ, chúng tôi tiếp tục câu chuyện mà đáng lẽ sẽ rất dài rất phong phú nếu có đủ thời gian. Chỉ với mục đích nhỏ, phác họa một vài chân dung tác giả áo hoa mũ đỏ của một thời đại văn học chiến tranh Việt Nam.

Nếu có câu hỏi có một nhà văn nào mà tôi thích nhất trong số những tác giả của binh chủng nhảy dù? Và đặc biệt riêng tôicó một chút kỷ niệm nào đáng nhớ không?

Câu trả lời không đơn giản. Ý thích thì hay thay đổi, lúc mê tác giả này lúc yêu tác giả khác. Thành ra cái nhất hay cái nhì cũng khó phân định.

Nhưng với tôi, ở Phan Nhật Nam, có một kỷ niệm nhỏ và một bài thơ. Bình sinh tôi rất yêu mến những người lính nhảy dù. Ở đó tôi nhìn thấy họ qua những sự hy sinh những gian khổ vô bờ và cả những chiến tích hiển hách. Tôi có nhiều đứa bạn, đã hãnh diện vì màu nón đỏ trên đầu và ra đi rất sớm trong chiến trận. Những năm của thập niên 80, khi Phan Nhật Nam còn bị dập vùi trong lao ngục tôi giở cuốn sách tái bản ở hải ngoại “Mùa Hè Đỏ Lửa” và tự nhiên nhớ lại một thời chinh chiến đã qua. Tôi viết một mạch với cảm khái bừng bừng của một người sống lại những ngày dĩ vãng:

Đọc Mùa Hè Đủ Lửa, nhớ tới Phan Nhật Nam.

Mùa hạ gió bạt đồi Quảng Trị

Cát bay con chốt mịt mù trời

Trang sách máu loang dòng bi ký

Ngôn ngữ tan tành miểng đạn rơi

Đếm thử bao nhiêu năm binh lửa

Bao nhiêu cái chết tựa trò chơi

Bão cát trăng treo rưng vó ngựa

Trường hành thãng thốt ánh sao khơi

Dựng một lá cờ trên cõi chết

Mặt trời phải mọc sáng hôm nay…”

Lần đầu tiên gặp PNN ở tòa soạn báo Người Việt khi ông vừa sang định cư ở Hoa Kỳ, tôi thấy hình như chất lửa mà tôi tưởng tượng ông có từ khi viết những Dọc Đường Số Một, Dấu Binh Lửa, hay Mùa Hè Đỏ Lửa vẫn còn nguyên. Thời gian của đày ải ngục tù chưa có tác dụng tận cùng của nó. Lúc cuối buổi họp mặt, PNN nói với tôi và cám ơn về bài thơ viết về Mùa Hè Đỏ Lửa. Ông đã đọc bài thơ và tự nhiên tôi thấy không cần phải đọc những câu như:

“đêm nay gió chướng rủ nhau về

lòng tạnh không sao có nước mắt

bút mực nào thê thiết cơn mê

nhìn bạn hữu anh em trang sách

tưởng tháng ngày bão lửa chưa quên

vết seo cũ còn nguyên dấu rạch

da thịt nào trời đất ngả nghiêng

Ơi Phan Nhật Nam dòng chữ viết

Đỏ hồng ngôn ngữ máu còn tươi

Đầy đọa ngục tù đâu làm chết

Màu xanh lịch sử vẫn tinh khôi”

Viết bút ký chiến tranh, là phản ánh lập trường chính trị một cách chủ quan, chỉ là một cách nhìn của một phía và chỉ soi rọi đến mõt nửa chân lý mà thôi. Đọc những trang sách viết về chiến tranh, chúng ta có thể rõ ràng mường tượng vị trí chính trị. Từ Phan Nhật Namđến Bảo Ninh, từTrần Hoài Thưđến Trần Mạnh Hảo,… dù thời điểm sáng tác có khác, dù hoàn cảnh, môi trường có khác, chiến tuyến có khác nhưng những giòng chữ viết của họ phần nào nóilên được tâm cảm của người lính trong bão lốc chiến tranh…

Nhưng, trên phương diện văn học sử, những tác phẩm như Dấu Binh Lửa, như Nỗi Buồn Chiến Tranh,… chính là những ghi chép lại của tâm tư một thời, những ngày khốc liệt nhất của lịch sử. Khác với vai trò của một văn công tuyên truyền, họ mang cái lửa của những người tuổi trẻ sống trong một thời kỳ không thể có một quyết định nào khác hơn là cầm súng. Những người không thích chém giết mà vẫn phải lao mình vào lửa đạn.

Tôi đọc Phan Nhật Nam trong tâm cảm ấy. Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số 1, Mùa Hè Đỏ Lửa, là những bút ký ghi lại một thời mà chúng ta đều gắng quên mà phải nhớ. Một thời kỳ mà những suy tư đã dằn vặt lên những “con người” biết nghĩ đến phát điên lên được. Thực tế lịch sử đã tròng tréo lên nhau hết mắc míu này đến liên hệ kia. Những thế lực ngoại quốc chi phối, những tâm cảm bức bối nhược tiểu, những con đường đi ít có ánh sáng mặt trời. Tuổi trẻ bị đẩy vào mê cung và quanh quẩn lồng lộn trong những chấn song giới hạn như trong một bẫy rập.

Tôi nghĩ PNN yêu và hãnh diện về binh chủng mà ông đã phục vụ. Ông viết tràn đầy tình cảm khi đề cập đến những vị chỉ huy hay những người bạn đồng ngũ của mình. Ông viết về người đã hy sinh như “Anh Năm” cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo, người ở lại Charlie, bằng ngôn ngữ đằm thắm thiết tha tạo thật nhiều xúc động cho người đọc. Cũng như, khi nhắc đến người hay nhắc đến cảnh, đều là nỗi bùi ngùi là tâm tình thành thực của người hiểu được sự còn mất của kiếp sống và thấm thía với sự hy sinh của những người lính phải xông pha vào tuyến đầu lửa đạn mà không quản ngại đến tính mạng của mình.

Có một nhà văn Nhảy Dù được giải thưởng văn chương toàn quốc

Theo trí nhớ của tôi thì đó là nhà văn Trang Châu và tác phẩm Y Sĩ Tiền Tuyến đoạt giải văn chương toàn quốc năm 1969.

Tác giả Trang Châu là bác sĩ Lê Văn Châu trước năm 1975 phục vụ trong binh chủng nhảy dù. Hiện hành nghề bác sĩ tại Montreal (Canada). Tác phẩm gồm Y Sĩ Tiền Tuyến, Về Biển Đông, Thơ Trang Châu, Dì Thu, Thơ Tuyển. Là một bác sĩ quân y nhưng ông cũng có nhiều ngày tháng ở chiến trường nên văn chương của ông có nét hiện thực đời sống cộng chung với nét nhân bản lãng mạn của một nghệ sĩ. Ông mở đầu những trang sách ghi chép lại những ngày tháng quân ngũ bằng một đoạn thơ rất hòa bình nhân ái:

“trong cuộc chiến hôm nay

cho tôi xin chiến đấu không hận thù

xin những vết thương bình dẳng

cho tôi đổi một trăm chiến thắng

lấy một giọt nước mắt kẻ thù…”

Đề tài của ông không cao xa, gần gũi cuộc sống, gần cận đời thường, nhưng ở trong cách diễn tả của ông lại có chất lôi cuốn để trở thành nét mới lạ. Ở trong cái quen thuộc, trong cái bình thường lại tìm được sự độc đáo khai pháthành cái tinh khôi chưa ai khai triển chưa aiđụng tới. Có lẽ, sự đi tìm nét xác thực của chính mình, đời sống mình như một cách thế tự soi gương nhìn ngắm trong văn chương đã thành một nét riêng độc đáo của ông.

Đã có nhiều nhận xét xác đáng về tác phẩm Y Sĩ Tiền Tuyến của bác sĩ thuộc binh chủng Nhảy Dù Trang Châu từ những hành động dấn thân của một người lính đến tâm tư của một người Việt Nam vềmột cuộc chiến tranh tương tàn.

Nhiều tác giả đã nhận xét như nhà văn Nguyễn Đình Toàn, nhà văn Nguyễn Đạt Thịnh,…

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn viết:

“Quê hương và chiến tranh đã được nói tới nhiều, nhìn ngắm nhiều và lần này qua ngòi bút của một nhà văn y sĩ, nghĩa là qua một lươnmg tâm đích thực.

Đây là một ký sự, một tác phẩm văn chương. Bởi vì tất cả những sự kiện có thực trong đời sống, khi đem vào tác phẩm, dù được sắp xếp hoặc hỗn độn, hoặc trật tự như thế nào cũng đều thoát ra một dẫn giải.

Ở đây lẽ tự nhiên, là một dẫn giải về cuộc chiến mà tất cả chúng ta đang chịu đựng và chống trả trong đau đớn và hy vọng.”

Mỗi người đều có sự chọn lựa cho số phận mình. Nhà văn Trang Châu suy nghĩ như thế nào khi chọn đơn vị là binh chủng nhảy dù?

Và câu trả lời ấy chỉ có mình ông… Trang Châu là trả lời được thôi. Ông viết trongY Sĩ Tiền Tuyến:

“Nhiều người hỏi tôi tại sao đi học Nhảy Dù. Với mỗi người câu trả lời của tôi mỗi khác. Với những thằng bạn “phòng trà” đang mở lớn mắt nhìn tôi tôi chỉ nhún vai trả lời “nhảy twist, nhảy surf biết cả rồi, chỉ còn nhảy dù chưa biết, học cho biết”. Với những người lớn tuổi tôi đứng đắn trả lời tôi học nhảy dù vì tôi có ý định xin về phục vụ binh chủng nhảy dù. Với anh em trong tòa soạn Tình Thương tôi bảo dưới đất hết đề tài viết nên tôi đi kiếm cảm hứng trên không để làm thơ. Với những thằng bạn hay rủ tôi làm cách mạng, làm chính trị tôi nói trước khi làm cách mạng cho dân tộc hãy cách mạng bản thân đã. Cuộc cách mạng bản thân của tôi là đi học nhảy dù rồi về binh chủng dù đi hành quân. Tôi bảo với người này vì tôi thích cảm giác mạnh, với người kia vì tôi muốn có phù hiệu nhảy dù mang ở ngực cho oai… Với một người con gái tôi bảo tôi buồn tôi chán đời nên tôi liều, với một người con gái khác tôi nói đi Nhảy Dù sẽ được ở Sài Gòn như vậy gần nàng hơn. Vì tôi giận gia đình, vì có người chê tôi con trai mà trắng quá… Cho đến hôm nay đã hai mươi lần nhảy ra cửa phi cơ và đáp xuống đất bình yên, tôi vẫn chưa tìm thấy một câu trả lời thích đáng để giải thích với chính lòng mình tại sao tôi đi học nhảy dù…”

Như vậy, nhà văn Trang Châu trả lời mà như chưa trả lời. Chúng ta có thể phỏng chừng câu trả lời xác đáng không?

Có thể có câu trả lời phỏng chừng. Nhà văn Trang Châu là một mẫu người dấn thân chăng? Trước năm 1975 thì đi lính nhảy dù để đi hành quân cực nhọc nguy hiểm còn sau năm 1975 thì mặc dù có phòng mạch tốt, gia đình tốt mà lại tình nguyện “Về Biển Đông” đi cứu giúp người vượt biển trong vai trò của người bác sĩ.”

Tác giả Trang Châu đã viết “Về Biển Đông” trong trường hợp nào?

Khi viết Về Biển Đông tác giả đã đóng cửa phòng mạch của mình một thời gian và tình nguyện làm y sĩ trên con tàu Mary Kingstown đi vớt người vượt biển. Tác phẩm này kể lại cuộc hành trình này từ chi tiết và tác giả đã coi đây như là một kỷ niệm đẹp của đời mình…

Có một bài thơ in ở phần cuối cuốn sách đã biểu lộ được cảm xúc của một người bác sĩ nhà văn đi cứu giúp người

Bài thơ Về Biển Đông có những câu:

“một chớm bình minh anh ra khơi

trùng dương bát ngát, người mong người

dang tay ôm cả chân trời rộng

sóng vỗ thân tàu bọt biển bơi

hỡi những sông ngòi trên quê hương

có nghe lòng rộn tiếng lên đường

những con thuyền nhỏ con thuyền nhỏ

xuôi nước âm thầm ra đại dương

ôi những phong ba sóng thét gào

những phường thủy khấu sặc binh đao

những bàn tay yếu trong tay yếu

nhưng mắt ngời lên ánh lửa sao…”

 

Thơ của chân tình của tấm lòng nhân ái. Thơ thắp đuốc tình người. Thơ của công việc thực, không phải chót lưỡi đầu môi. Thơ làm cách nay gần hai chục năm (tháng 5 năm 1988) mà sao tời nay vẫn còn nghe rung động trong tôi.

Ở chân dung Trang Châu, chúng ta thấy được cá tính của binh chủng Nhảy Dù cố gắng?

Vâng, một cách rõ ràng tôi thấy chất Nhảy Dù Cố Gắng trong nhân dáng Trang Châu, dấn thân vì đời, cả lúc chiến tranh đến khi ngưng tiếng súng. Chất nhân bản của người lính VNCH, đã rõ nét trong những việc làm của bác sĩ Nhảy Dù Trang Châu…

Thời đại Việt Nam là một thời đại chiến tranh mà tất cả mọi người bị lôi cuốn theo trong cơn lốc bạo tàn của thời cuộc. Những biến cố chính trị đã làm thay đổi những cuộc đời vào những ngõ rẽ không ngờ trước được. Thế hệ lớn hơn chúng tôi, trưởng thành trong một thời đại bắt đầu với cuộc thế chiến thứ nhất, sau đó là cuộc khởi nghĩa năm 1930 của VNQDĐ rồi kế tiếp là những cuộc chiến khốc liệt khi đất nước bị chia đôi và sau cùng là cuộc thử sức giữa hai thế lực đại cường gôi là phe tự do và phe cộng sản. Trong bối cảnh ấy, những trai trẻ lớn lên dù muốn hay không đều phải chọn lựa vị trí cầm súng để bảo vện phần đất của mình. Lê Đình Châu lớn lên trong thời thế như vậy vô tình đã biến chính cuộc đời mình là chứng nhân của một thời thế vô cùng đặc biệt của đất nước Việt Nam. Trong văn chương, với hai tác phẩm đã viết, ông phác họa lại đời sống của một người lính VNCH với tất cả những bi hùng của một thời đại Việt Nam đầy biến cố.

Nhà văn Lê Đình Châulà một sĩ quan tham mưu của Lữ Đoàn 3 Nhaỷ Dù đã bị bắt tại Hạ Lào khi can cứ hỏa lực 31 bị thất thủ vào tay Cộng quân. Ông cùng với Đại tá Nguyễn văn Thọ bị giải ra Bắc và giam trong Hà Nội Hilton đến mãi sau khi Việt Cộng chiếm cả nước mấy năm mới được tha về.

Ông thuở nhỏ lớn lên và có nhiều kỷ niệm với thành phố Hà Nội, học trường trung học Nguyễn Trãi và sau đó gia nhập trường Võ BịNam Định và tốt nghiệp khóa trung Đội Trưởng Hiện Dịch tại Phà Đen Hà Nội. Sau đó từ 1952 đến 1968 ông liên tiếp phục vụ tại các quân trường tổng cộng là 16 nămtrong vai trò huấn luyện viên chiến thuật. Năm 1968 tình nguyện về phục vụ trong binh chủng Nhaỷ Dù, lập được nhiều chiến công…

Ông có hai tác phẩm: hồi ký “Đôi Mắt người Tù Binh” xuất bản năm 1999 và “Chiến Tuyến Tự Do Ven Sông Hồng” xuất bản năm 2002.

Đôi mắt người Tù Binh kể lại khoảng thời gian tác giả sống trong quân ngũ cùng những ngày gian lao của một tù binh bị Cộng Sản giam giữ trong hơn chục năm trời ở Bắc Viêt. Là một chàng trai Hà Nội, vào quân ngũ, di cư vào nam và phục vụ tại các đơn vị hầu như trên toàn vùng đất nước. Văn phong đặc biệt của một chàng trai Bắc Kỳ Hà Nội với những nét dí dỏm khi tả cảnh tả người tạp thành nét lôi cuốn người đọc cho tác phẩm. Đăïc biệt với phần cuối “Con Tàu Định Mệnh” như một thiên anh hùng ca kể lại chuyến vượt biển tìm tự do có lẽ không tiền khoáng hậu trong lịch sử thuyền nhân Việt Nam.

Chiến Tuyến Tự Do Ven Sông Hồng viết về một thời tản cư kháng chiến, một thời hồi cư, một thời di cư và một thời vượt biên. Tác giả phác họa lại cả một thời đại dài của một tầng lớp trai trẻ trưởng thành từ những biến cố làm thay đổi cả đất nước.

Qua những tác giả trên, dù chỉ là một phần trong các cây bút của binh chủng nhảy dù, tôi cũng nhận thấy một điều. Chân dung những người lính VNCH, dù qua năm tháng vẫn còn hiện diện trong đời sống văn chương nghệ thuật Việt Nam…

Nguyễn Mạnh Trinh.

 

Be the first to comment

Leave a Reply