Vũ Hữu Ðịnh, một chút gì để nhớ

Ngày 20 tháng 2 năm 1981 là ngày giỗ của thi sĩ Vũ Hữu Ðịnh. Giở lại đọc những bài thơ cũ, để tưởng nhớ đến một thi sĩ đã sống trong một thời kỳ đặc biệt của lịch sử và đóng góp vào gia tài văn chương của thế hệ Việt Nam của một thời đại lịch sử đầybiến cố…

Có người nói thơ văn đã choàng vòng nguyệt quế cho thành phố ở nơi heo hút địa đầu của Tây Nguyên mang danh Phố Núi. Pleiku, một thành phố nhỏ miệt rừng núi cao nguyên, nhờ thơ và nhạc, đã thành một nơi chốn đầy thơ mộng lãng mạn.

Thành phố ấy, có những tương phản kỳ lạ. Chiến tranh đã làm phố núi ấy có một bộ mặt, khi thì huyền ảo mộng mơ với những tà áo dài nữ sinh đi học buổi sớm mai nhưng cũng có lúc đầy nhục dục xác thịt với những ngõ phố tràn ngập lính viễn chinh tìm vui trong gái đẹp và men say. Con đường từ phố đến Camp Holloway đầy những quán rượu và những cô gái phấn son lòe loẹt. Và, thành phố cũng đầy những sắc lính. Những người từ mặt trận trở về, đốt tiền mua vội một đêm vui rồi sáng mai trở lại miền gió cát. Những người lính đồn trú ở đây, ráng làm quen với cuộc sống ở vùng nắng bụi mưa sình, trong một giây phút nào, cũng nao nao vì những tà áo trắng buổi sáng trong sương mù Pleiku, tìm thấy một chút mộng ảo trong đời để làm kỷ niệm…Pleiku, những cuộc tình có thực đầy giông bão của những người lính và những cô gái giang hồ. Nhưng Pleiku cũng có những êm ái thánh thiện của tình học trò áo dài trắng và người lính dạn dầy trong khói lửa. Pleiku có con đường đầy quán rượu cho lính G.I. viễn chinh nhưng cũng có con đường có hai hàng cây cao vút rợp bóng lá và những tà áo nữ sinh tung bay theo nắng.

Người làm thơ, có lúc cũng cảm khái vì cái không gian, thời gian của thành phố ấy. Mưa cũng là cái mưa đặc biệt, mỗi hạt mưa như chứa đựng cả những nỗi niềm của tất cả những địa phương xa lạ thu góp về. Nắng cũng là cái nắng không phải của một nơi chốn nào khác, nó mang đến cái hanh hao khó chịu nhưng cũng trong màu nắng ấy lấp lánh những tình cảm thầm thì khó tả. Lạnh cũng chẳng phải là cái lạnh lẽo bình thường mà hình như cỏ cây, đường phố, núi non,… ở đây cũng se mình và chia sẻ chung vui buồn với con người. Từ giây phút hiếm có trong đời, cảm xúc đã làm ngôn ngữ tăng thêm lôi cuốn và tạo nhiều ấn tượng. Những câu văn được viết với tâm cảm sống bừng bừng. Những bài thơ như ghi khắc lại những cuộc đời hiện thực trong bát ngát khung trời thi ca. Cảnh và người, người và cảnh, như có gì trao đổi với nhau, sẻ chia với nhau trong khi chiến tranh đến và cuốn đi tất cả như trong một cơn hồng thủy.

Những nhà văn, nhà thơ đã làm cho nắng Pleiku lung linh hơn và bầu trời Pleiku mênh mông cao vút hơn.

Một người đội vương miện cho Pleiku là Vũ Hữu Ðịnh. Ông chỉ là người  “khách lạ” ghé chơi, không phải là người bản quán đã thở và sống với thành phố ấy. Nhưng, người khách lạ ấy, đã làm rạng rỡ hơn cảnh vật và khám phá từ thiên nhiên những tâm tình ấp ủ theo từng ngõ phố từng bước chân đi.

Nếu nói bài thơ “Còn Một Chút Gì Ðể Nhớ” của thi sĩ họ Vũ đã làm cho Pleiku trở thành một nơi chốn cực kỳ lãng mạn và thơ mộng của thi ca Việt Nam thì cũng chắng phải là ngoa ngôn. Những câu thơ dễ thương của một vài con phố nhỏ heo hút của vùng cao nguyên, với hình tượng của “Em”, của thời tiết lạnh lạnh để má em thắm để môi em hồng. Có ai hỏi là những nhân dáng này có thật không trong đời sống của người làm thơ không thìnhà thơ họ Vũ đã trả lời rằngđó chỉ là hình tượng tổng hợp từ nhiều hình ảnh trong thực tế để tổng hợp thành một hình tượng tuyệt diệu của tưởng tượng, của hư cấu. Và trong cái không gian của một phố núi nhỏ nhoi, con người thi sĩ và cảnh vật cũng như thiên nhiên ở đây hình như thở chung một nhịp đập của trái tim tràn cảm xúc. Con phố hoang sơ lạnh lùng nhưng dường như có một tâm hồn mà người thơ cảm thông được, hiểu được từ nỗi cô đơn mà trời riêng dành cho người làm thơ.

Bài thơ ấy gồm chỉ mười hai câu thơ thôi mà chuyên chở rất nhiều tình, ý. Thơ có thiên nhiên hòa hợp với con người. Thơ làm đời sống có nhiều chất thơ hơn để quên đi những ám ảnh của chiến tranh:

“Phố núi cao phố núi đầy sương

phố núi cây xanh trời thấp thật gần

anh khách lạ đi lên đi xuống

may mà có em đời còn dễ thương

phố núi cao phố núi tròi gần

phố xá không xa nên phố tình thân

đi dăm phút đã về chốn cũ

một buổi chiều nao lòng bỗng bâng khuâng

em Pkeiku má đỏ môi hồng

ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông

nên mắt em ướt và tóc em ướt

da em mềm như mây chiều trong

xin cảm ơn thành phố có em

xin cảm ơn một mái tóc mềm

mai xa lắc trên đồn biên giới

còn một chút gì để nhớ để quên.”

Hình như về sau này, khi Cộng sản chiếm miền Nam, thì trong các tuyển tập thơ có trích đăng bài này. Bài thơ này hình như vượt qua được giới tuyến của chiến tranh dù không phải là một trăm phần trăm nguyên tác. Thí dụ như hai câu thơ cuối thì nguyên bản là:

“mai xa lắc trên đồn biên giới

Còn một chút gì để nhớ để quên”

Thì sửa lại là “mai xa lắc trên đồi biên giới

Còn một chút gì để nhớ để quên”

Chỉ sửa có một chữ mà ý tưởng đã khác nhau nhiều!

Tôi không rõ Vũ Hữu Ðịnh viết bài thơ này trong thời gian nào nhưng theo nhà thơ Luân Hoán một người bạn thân cùng quê với anh đã tả chân dung nhà thơ ấy như sau:

“với chiều cao khoảng một thước sáu nhưng có bề ngang, cộng với dáng đi chữ bát, cộng thêm lối ăn vận lè phè nhà thơ Vũ Hữu Ðịnh trông gần như hơi thấp. Anh không có khuôn mặt đẹp trai nhưng nhìn rất bắt mắt. Nụ cười xuề xòa luôn luôn đi trước giọng nói dí dỏm bộc trực đã thắp sáng khuôn mặt ngả màu nâu sậm của nhà thơ miền Trung ra đời vào thập niên 40 này. Năm 1970 năm tôi khôngmay mắn phải giã từ rừng núi và phố chợ Quảng Ngãi để trở về Ðà Nẵng tôi đã gặp và quen thân với Vũ Hữu Ðịnh. Lúc đó hình như anh đang mặc áo cán bộ xây dựng nông thôn. Ðịa bàn công tác của anh lòng vòng ven rìa thành phố Ðà Nẵng như Thanh Khê, Hà Khê, An Hải, Sôn Trà,.. Anh chợt đi, chợt về. Ðặc biệt là lúc nào cũng có vẻ thong dong giàu có thời giờ phất phơ phố xá. Anh làm thơ nhiều trong giai đoạn này. Thơ của anh hầu hết được đăng trên các tạp chí vănchươngtại thủ đô Sài Gòn. Vũ Hữu Ðịnhcó đời sống vật chất không mấy khả quan. Quen biết nhau khá lâu nhưng anh từ chối không thuận cho tôi đến nhà chơi. Cũng không hề đề cập đến gia đình của anh. Biết anh có vợ có con nhưng mãi về sau này tôi mới tình cờ được gặp trong một hoàn cảnh thật buồn!”

Còn một chút gì để nhớ, ơi kỷ niệm của một thời trong một đời người.

Có khi em Pleiku chỉ là tưởng tượng trong thơ. Thi sĩ đã làm thành một nhân dáng nữ tuyệt vời để tô điểm cho phố núi ấm áp hơn trong cái lạnh se se Tây Nguyên. Thơ như tháp cánh vút lên, để những hàng cây dầu hai bên con đườnghọc trò vươn lên màu lá xanh hiền. Thành phố có em, là thành phố mà tình yêu đã làm một thứ trang sức cho đời lính thú biên trấn xa xôi. May mà còn có niềm vui,…

Có những bài thơ, tôi đọc của Vũ Hữu Ðịnh mà mường tượng ra những cảm giác của chính mình. Có những cảnh ngộ, đã trải quatrong đời sống, bây giờ, đọc trong thơ Vũ Hữu Ðịnh, như sống lại trong ký ức.

Như, bài thơ “Những ngày long đong”:

“trưa ngủ đậu-chiều đi –đêm đợi

mai lang thang, mốt biết về đâu

ngày với tháng cứ đùn như mối

tháng với ngày qua như một bãi mù

đi ra khỏi nơi anh tạm trú

đứng một nơi đâu không định trong lòng

ngã bảy xe người chia bảy ngã

có ngã nào đi riêng của anh đâu

đi ra khỏi nhà sơ quen tạm ngụ

một đêm đau lưng mắt mở trừng trừng

đi ra khỏi là ra đi với nhớ

để chiều về đâu? Ngơ ngác bâng khuâng…”

 

Phải, tôi đọc thơ Vũ hữu Ðịnh để nhớ lại những ngày xa xưa thuở ấy. Lúc lang thang vơ vẩn ở Sài Gòn năm 1980 sau khi được thả về. Sau đó, tham gia tổ chức một chuyến vượt biển không thành ở Bến Tre và bị công an tỉnh lên tận Sài Gòn hỏi thăm. Túng cùng, khi chiều về đêm xuống đạp xe đi mà không biết mình đi đâu. Có lúc, như một nhân vật của kiếm hiệp Kim Dung mà than thở một mình. Than ơi, trời thì cao, đất thì rộng mà ta thì không chốn nương thân. Câu hỏi tối nay biết ngủ đỗ nơi đâu cứ hoài trong tâm trí. Mình có nhà có cửa mà sao phải lạc loài như người vất vưởng không nhà. Có bữa, mướn chiếu ngủ tạm ở bến xe, để nghe những người chung quanh chửi rủa thời thế, hay những cô gái giang hồ đêm khuya kể lể tâm sự bọt bèo mình. Tôi khám phá ra một điều ngủ đêm ở bến xe lại an toàn hơn bất cứ một nơi chốn nào khác. Nếu tạm trú tại nhà mấy người thân, thì chỉ một lần, bởi cả gia đình người thân ấy cũng sẽ hồi hộp chờ tiếng gõ cửa xét nhà kiểm tra hộ khẩu và cả đêm thức trắng trong lo sợ. Thôi thì đành tối tối, tới bến xe, ngủ lẫn lộn với những hành khách chờ xe đò hoặc những anh tài xế xe vận tải hay những chị buôn hàng chuyến, để chờ một chuyến đi sắp tới cho qua những ngày bị truy nã, săn đuổi…

Ðọc những câu thơ, tự nhiên sao bồi hồi. Nhớ lại, một thời gian qua, đã tới hai mươi mấy năm mà sao như trước mắt. Tôi thấy mình đạp xe lang thang giữa con phố đông người với mây đen ùn lên phía chân trời của thành phố Sài Gòn đang lên đèn. Tôi nghe lại những câu vọng cổ, than thở buồn hiu trong đêm mưa dầm rả rích khi mình cuộn tròn trong manh chiếu ở hiên nhà cạnh những người vô gia cư từ kinh tế mới trở về, lăn lóc, tang thương.

Ðọc những câu thơ sao thấm thía:

“trong đám đông anh lại càng cô độc

bởi một nơi đâu cũng ăn tạm ở nhờ

sợ cả lời chia vui thành thật

bạn bè thì đông sao anh vẫn bơ vơ

buổi tối xe lam muộn màng ế khách

lại tới một nơi không hẹn không tìm

anh đi ngược lại con đường xe chạy

mỗi bước chân rời mỗi nhịp đau tim

thành phố lặng là khi nghìn tiếng động

không xô tan được khối lòng sầu

chân anh bước, mắt chỉ nhìn phía trước

tai nghe hoài một câu hỏi về đâu.”

 

Thời gian ấy, sao cố quên mà vẫn còn hằn nhớ. Cái tâm cảm của một người cô đơn trong cái xô bồ náo nhiệt của chỗ đông người lại càng làm tăng thêm cường độ nỗi buồn. Thời thế ấy, sao buốt xót. Kỷ niệm ấy sao ngậm ngùi. Cầm tập thơ Vũ Hữu Ðịnh trên tay, mặc dù chưa bao giờ gặp mặt và cũng không hề quen biết mà sao tôicó cảm giác vô cùngthân thuộc. Không biết có phải vì có lúc, mình cũng đồng cảm với cái tâm sự của một người lỡ vận “Ta đã hát khúc hát đời lỡ vận. Hát âm u trong đêm tối một mình”. Hình như, với thi sĩ tác giả “Còn một chút gì để nhớ”, đêm tối lúc nào cũng là cái phông thẳm sâu của kiếp người, của những bước chân đi không bao giờ đến đích.

Bài thơ về phố núi Pleiku của Vũ Hữu Ðịnh với nhạc Phạm Duy đã tạo một thành phố nhỏ nơi xó rừng thành một nơi chốn đầy huyền thoại, vừa lãng mạn vừa bi tráng. Ở đây, có những chuyện về Bà Chúa Rừng linh thiêng, có những mối tình y như tiểu thuyết của những người lính trận và những cô gái giang hồ. Thời chiến tranh cực độ, phố núi là nơi dưỡng quân của những chàng G.I. từ mặt trận biên giới trở về và cũng là nơi mà các nàng kiều nữ từ khắp nơi đổ về kiếm tiền. Và, cũng chính nơi đây, là nơi nghỉ phép của những chàng lính chiến từ biên trấn. Rượu, ăn chơi, nhảy nhót, cho quên sầu để rồi trở lại chiến trường, ở đó có những mối tình giang hồ nhưng cũng có những mối tình lãng mạn trong trắng. Ở đó, cũng có con đường Trình Minh Thế rợp bóng cây dầu, cây sao, những giờ đi học hay tan học tung tăng những tà áo trắng nữ sinhtrong cái mù sương buổi sáng hay nhạt nắng buổi chiều. Pleiku, “phố xá không xa nên phố tình thân. Ði dăm phút đã về chốn cũ….”. Con đường Hoàng Diệu từ rạp Diệp Kính đến Bưu Ðiện, chỉ vài phút đi lên đi xuống để cho đời còn mơ còn mộng, còn thấy hạt nắng dễ thương, hạt mưa tuy buốt lạnh nhưng lại ấm lòng vì đôi mắt em. Dù nơi đây suốt năm là mùa đông tháng giá nhưng má đỏ môi hồng em làm ấm mùa xuân. Và:

“xin cảm ơn thành phố có em

xin cảm ơn một mái tóc mềm

mai xa lắc trên đồn biên giới

còn một chút gì để nhớ để thương”.

Rời phố núi, để hát bài Biên trấn ca. Thơ, là tiếng hú vọng lên thinh không về đến quê nhà. Thơ, là tia nhìn tha thiết xuyên qua rừng qua núi, về một nơi chốn nào sắt se kỷ niệm. Thơ, những vần thơ làm xao xuyến không gian.

“… chiều có ta đứng mãi

định hướng phương trời quê

chim bay về biển Bắc

gió bạc hồn sơn khê.

Ba năm đồn biên trấn

Hai mươi năm giang hồ

Chuyện kể hoài bữa rượu

Thuốc chẳng tàn cơn mê

 Ðồn cheo leo đón gió

Bốn mùa phên mây che

Ðất trời đây một cõi

Nhốt đời chưa cho về…”

Có người nói thơ Vũ hữu Ðịnh ít có bóng dáng chiến tranh. Nếu có. chỉ là những nét thoảng mờ không rõ nét. Nhưng, trong suy nghĩ riêng mình, tôi lại thấy bất cứ bài thơ nào của ông cũng đều thấp thoáng hình ảnh của một thời đại chinh chiến. Cái tâm tư bất an, cái nỗi niềm thời bom đạn, những huyễn mộng và đau xót hòa chung, bàng bạc trong ngôn từ, của một thời đạimà bất hạnh thành quen thuộc và hạnh phúc lại hiếm hoi.

Bài “Trên đoạn đường quê em”, như một lời phẫn nộ:

“Lửa rực đỏ treo trăm đường sinh tử

Trong đêm cay, đêm địa ngục hãi hùng

Mẹ thét tìm con tóc dài điên dại

Xiêu vẹo giữa đường chết đuổi sau lưng

Lửa đã cháy đường ra quê em

Lửa đã cháy một đoạn lòng của mẹ

Ôi cái chết có còn chăng lý lẽ

Có lý lẽ nào đã giết anh em

Ðường ra quê em trăm ngàn cay đắng

Lửa hạ đạn gào trăm tiếng keu la

Những giòng máu vô tình vô tội

Ðã chảy lên nhau thành suối chan hòa

Lửa Quảng Trị lửa rượt về Mỹ chánh

Rải những thây người gục giữa đồng khô

Những giòng máu đã thấm tràn mạch đất

Có làm tương lai con cháu huy hoàng?”

Ghét chém giết, nhưng vẫn phải tham dự chiến tranh, ôi tấm lòng tuổi trẻ sao sắt se buồn:

“trên non may có tình bằng hữu

tuổi trẻ đau chung một khúc ca

ôm nhau thức với vầng trăng lạnh

vượt lá tìm sao định hướng nhà

cónhững ngày đi trong núi thẳm

tuổi trẻ nhìn nhau nhớ xóm thương làng

thở chung một tiếng nghe sầu cháy

tâm sự chuyền nhau điếu thuốc quan san

Cám ơn điêu đứng rừng sinh tử

Cạm bẫy người giăng để giết người

Tuổi trẻ gần nhau trong gió lửa

Giữ giùm nhau những tiếng chim cười.”

Có lẽ những bài thơ hay nhất của Vũ Hữu Ðịnh, theo tôi, là những bài thơ viết về thời lang thang giang hồ của ông. Có khi ông luận chuyện đời, một chút triết lý, một chút cám cảnh thương thân. Có khi, ông phác họa lại tình cảnh mình, đối chiếu giữa cái có và cái không, cái chân thực và cái giả ngụy:

“… bạn bè bảo ta thằng giả trá

thằng làm thơ “tẩu hỏa nhập ma”

ta chỉ biết cười trong im lặng

có một lời nào ta nói chưa ra

hôm xưa ta vốn thằng hay nói

chuyện văn chương giống chuyện đàn bà

chuyện anh em chết ngày đôi đứa

nói mãi không cùng chẳng tận xót xa

có lúc cay môi mềm tiếng rượu

lòng cũng hân hoan đánh đổi mặt đời

khốn nỗi đời sao trăm thứ mặt

nên ta còn đỏ một mặt trời

ta có những ngày đong đưa giữa phố

thoát không ra vòng trói đời ta

thử yêu, dầu chỉ yêu gái điếm

nhưng thật hết rồi thời của bướm hoa”

Thi sĩ tự họa chân dung, của một lời thê thiết bỏ nhau, của những lúc hất bỏ đi những gì thơm hương những gì mơ mộng nhất:

“bỏ người ta vẽ chân dung

bỏ người ta thấy trùng trùng cõi xa

bỏ ta

ta vẽ đời ta

bỏ nhau ta vẽ ngựa già ngủ im

bỏ ngày xưa

bỏ trái tim

ta lang bạt tự kiếm tìm xót đau

bỏ đời rồi bỏ đời nhau

bỏ trăng chết lạnh bỏ sầu khói sương

bỏ rừng tuổi lá thơm hương

bỏ sông để gió làm buồn sóng chao

bỏ người tôi bỏ đời nhau

bỏ thiêng liêng ngẩng mặt chào cõi không”

Ðiệp khúc “bỏ người, bỏ đời, bỏ ta, bỏ rừng, bỏ trăng, bỏ sông” như những lời than oán, như những tiếng gọi về. Buồn, một nỗi đau tận cùng, nhưng, sao trong ngôn ngữ, có phãng phất một chút gì chịu đựng, như số phận đời đã phải cam chịu, đã phải buông xuôi…

Tình yêu, có lúc là những cơn mộng, của giây phút kiếm tìm nhưng chẳng bao giờ gặp gỡ trong đời. Vũ Hữu Ðịnh làm thơ tình, giữa thiên nhiên hiền hòa nhưng sao trong lòng như đã chớm một niềm đau, bàng bạc:

“vẫn nằm mộng thấy bàn tay em vẫy

nên chi anh đi ngơ ngẩn kiếm tìm

có buổi chiều ngồi ngo mãi ù ra sông

có buổi tối qua những đường quen cũ

có đêm thức ngó lá dừa buông rủ

những lá dừa kia đã có linh hồn

lay nhẹ nhàng rơi những hạt trăng suông

rơi xuống chận hơi thở vừa ngang ngực

và hai mắt đã thấy mình đau nhức…”

Làm thơ về Huế, để nhớ lại những đứa bạn thời xưa. Nói với bạn, mà sao như nghe nói với quê cha đất tổ nỗi niềm của mình, của những người con làng phải xa rồi lại trở về, chịu những cảnh khó khăn của một thời đại đầy đổi thay bất trắc. Thơ gửi Trần Dzạ Lữ, gửi theo một cảm xúc buồn về đất nước quê hương:

“…tôi có nhiều người bạn Huế

thường nói với nhau về Huế của mình

xa thì thương ở gần dễ giận

đi xa Huế dẫu đời lận đận

nhưng còn Thành Nội trong tim

nhưng còn hình ảnh núi Ngự sông Hương

cái huyền thoại nghe buồn dễ sợ

Duận ơi! Cuộc sống có bao giờ dễ thở

Ai có bạc chi mình cứ níu xóm làng

Tau vẫn nhớ hoài năm tháng lang thang

Mày cứ nhắc làng quê Nam Phổ Hạ…”

Bài thơ cuối trong đời thi sĩ, viết vào xuân Tân Dậu, như một lời trăn trối. Mô tả về mình “vợ năm con không no không đói. Nợ nần chưa thoát nổi. Càng nợ càng hăng vay. thiếu cái danh nhưng không thiếu bạn bè. Ði đâu cũng có phần rượu tặng”. Tự nghĩ về mình, sống giữa cảnh đời khó khăn, làm bao nhiêu nghề nhưng vẫn vương theo một nghiệp làm thơ, gia cảnh nếu không có người vợ đảm đang thì với một người lang thang giang hồ làm sao chu toàn. Thi sĩ:

“chẳng hề luận về tài giỏi.

Chỉ mê man với cái chân tình.

không thích thằng háo danh.

Chẳng sợ phường học vị.

Suốt đời thèm đi thèm thấy.

Thèm nghe thèm học cuộc đời.

Bốn mươi năm khoảng dăm lần tù

Câu hỏi lớn thế nào là tội lỗi

Văn chương thế mà trôi nổi

Ta chẳng buộc thơ sao thơ lại buộc mình.

Làm thơ cho vợ hết tình.

Cách xin lỗi của người có lỗi.

em ơi!…”

Có linh cảm sẽ ra đi, nên bài thơ như mộtcách nhìn lại cuộc đời mình với lời hứa giữa một mùa xuân:

“Nay ta mừng xuân ta bốn mươi tuổi

bằng bài thơ kiểm điểm đời mình

ta hứa ta sẽ sống thật tình

và ta chỉ làm thơ

khi ta xúc động

ta đang nhớ thuở sông dài núi rộng

đường thệnh thang của một gã giang hồ

ta đang thèm đi để học làm thơ

chờ ta đón xuân nhớ phần rượu tặng.”

Chết lúc bốn mươi, có lẽ cuộc đời người làm thơ ngắn ngủi. Phần rượu tặng của đời chàng có lẽ là những giọt đắng tân toan. Chàng ra đi khi đất nước trong những ngày cực kỳ khó khăn, khi chế độ với chính sách kinh tế chỉ huy, ngăn sông cấm chợ, triệt hạ tư sản lôi xã hội xuống cấp tột cùng. Vũ Hữu Ðịnh qua đời vào đầu năm 1981 tại An Hải, Ðà Nẵng. Ông từ trần vì say rượu té từ trên lầu xuống, một cái chết mà theo nhiều người kể lại thì còn nhiều nghi vấn.

Ðọc thơ Vũ hữu Ðịnh, thấy nỗi ngậm ngùi. Và lại càng thấy công việc in lại tập di cảo “Thơ Vũ Hữu Ðịnh” của các anh Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn là một việc nên làm. Nó chẳng những là một nén hương tưởng niệm mà còn làm sống lại một thời kỳ văn học thật nhiều tran trở thật nhiều thời đại tính mà những người lãnh đạo trong chế độ đương thời muốn xóa bỏ và triệt hủy…

Nguyễn Mạnh Trinh

Be the first to comment

Leave a Reply