Ý kiến độc giả

Góp Ý Với Ông Phùng Nhân và Bà Nguyễn Bích Thủy về bài viết trên Đặc San Hoài Vọng 2018 và Việt Luận 3142-3144

1- HỘI THÂN HỮU CAO NIÊN VN NSW CÓ GIÚP ÍCH GÌ CHO NGƯỜI GIÀ NƠI XỨ ÚC CHÂU
Kính thưa ông Phùng Nhân, tôi là một hội viên Hội Thân Hữu Cao Niên VN NSW, đã hơn 20 năm sinh hoạt với hội. Hội giúp ích cho người già chúng tôi nhiều lắm ông à như là:
– Mỗi năm hội viên đóng niên liễm có 12 đô mà suốt 12 tháng dự họp uống cà phê, ăn trưa.
– Mỗi đầu tháng đến hội họp nghe các chuyên gia, bác sĩ thuyết trình nhiều vấn đề liên quan đến người già rất hữu ích cho đời sống hàng ngày của người lớn tuổi.
– Đến dự họp, những người bạn già gặp nhau, uống cà phê rồi ăn nhẹ khỏi tốn tiền, cùng nhau tâm sự hỏi thăm sức khỏe ai còn ai mất, rồi cùng nhau ra về, bắt tay hẹn tháng tới gặp lại, có người còn được xe hội chở ra ga xe lửa Cabramatta, bắt xe về nhà nghỉ cho khỏe.
– Tham gia các cuộc pinic ngoài trời, hay đi du ngoạn hái trái cây, tắm nước nóng trị bệnh, và đi du ngoạn tham quan các tiểu bang khác như QLD, Victoria, Tasmania, cả New Zealand.
– Nếu hội viên có tham gia Ban Tương Tế khi mất; hội sẽ trợ cấp một số tiền theo nội quy của hội quy định để gia đình lo hậu sự cho người ra đi và mỗi hội viên còn lại đóng góp 5đô.

2- NHỮNG ĐIỀU BẤT LỢI ĐỐI VỚI HỘI THÂN HỮU CAO NIÊN VN NSW
Một người như ông Phùng Nhân không có đến sinh hoạt với hội và bà Nguyễn Bích Thủy bảo đã từng gắn bó với hội nhiều năm mà trước văn phòng hội có tấm bảng đề chữ lớn HỘI THÂN HỮU CAO NIÊN VIỆT NAM NSW, ông Phùng Nhân lại nhìn ra Hội Cao Niên của Anh Ba Miêng, chưa vừa lòng ông lại viết Hội Anh Ba Miêng, còn bà Nguyễn Bích Thủy thì nhìn thành ra HỘI CAO NIÊN CABRAMATTA như vậy có thể nói đôi mắt của ông Phùng Nhân và bà Nguyễn Bích Thủy có vấn đề đó, nên đi chữa sớm nếu để lâu có thể thành người mù đi rờ cẳng voi thì nguy lắm đó à. Tục ngữ có câu “TÂM BẤT CHÁNH THÌ LÒNG BẤT MINH”.
Thường khi đến sinh hoạt tại hội, mọi người gọi Anh Miêng là Anh Hai Miêng nay tôi thấy ông Phùng Nhân gọi Anh Miêng là Anh Ba Miêng không biết có ngụ ý gì đây vậy chỉ có ông Phùng Nhân hiểu mà thôi, có lẽ tư tưởng kỳ thị vẫn còn ăn sâu trong tâm thức của ông ta đó.
Ông Phùng Nhân bảo “Ngoài ra tôi không biết nội quy của hội như thế nào” đã không biết nội quy hội mà lại vỗ ngực dạy mấy ông già cách thức bầu cử, ứng cử để báo chí khỏi có tiếng chì tiếng bấc. Tục ngữ có câu “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”.

Cám ơn bà Nguyễn Bích Thủy có công trình bày sợ người cao niên bỏ quên quyền lợi được hưởng; nên chi trong các buổi du ngoạn hay hội họp tại hội có một vài người lên xe, cũng như vào phòng họp một mình giành 2 hay 3 ghế rồi sau đó bỏ ghế trống, riêng hàng ghế đầu có ghi QUAN KHÁCH cũng có vài vị hội viên thoải mái lên ngồi run đùi xem ca hát, cho mình là hội viên cơ mà, tại sao lại giành ghế nầy cho người ngoài hội, lại còn có vị lấy một lúc 2,3 phần ăn tự do ngồi thưởng thức, người lớn tuổi ăn nhiều có hại hơn là bổ.

Đề nghị ông Phùng Nhân đến văn phòng hội lấy bản nội quy HỘI THÂN HỮU CAO NIÊN VN NSW về đọc CHƯƠNG IV cho kỹ rồi đến văn phòng hội chỉ cách xiết bù lon của anh BA MIÊNG cho mấy bạn già lẩm cẩm biết rõ với; để khi trên đường về cội nguồn nếu gặp “cha già dân tộc” HỒ CHÍ MINH và CÁC ĐẢNG VIÊN CÁO CẤP Cộng Sản VN tụi nầy sẽ xiết bù lon không cho bọn họ trở lại VN để nhường đất, nhường biển cho Trung Quốc để bảo vệ 4 tốt và 16 chữ vàng.
Bà Bích Thủy bảo bà bị gán tội danh “quậy phá”, đọc bài viết của bà làm tôi nhớ chuyến di ngoạn thăm sở thú Dubbo NSW tham quan hồ nuôi cá sấu thấy nó quậy kinh khủng, đến bữa trưa gặp món càri cá sấu, một ông bạn nhai miếng thịt cá sấu nấu càri liền nói còn quậy nữa không.

Kính thưa ông Phùng Nhân và bà Nguyễn Bích Thủy, danh ngôn có câu:
Người làm tai hoạ cho ta,
Tìm phương ta tránh may mà đặng yên.
Tự ta gây sự đảo điên,
Khó lòng thoát khỏi lo phiền vào thân.
Một lần nữa xin ông Phùng Nhân và Bà Nguyễn Bích Thủy bình tâm suy nghĩ.

NGUYỄN VĂN BÁN
Hội viên Hội Thân Hữu Cao Niên Việt Nam NSW

Góp ý bài hồi đáp của ông Nguyễn Văn Miêng – HTHCNVN/NSW

Tháng Tư rộn ràng trong dư luận người Việt tại NSW, về các bài góp ý của cô Nguyễn Bích Thủy và nhà văn Phùng Nhân, liên quan đến sinh hoạt của Hội Thân Hữu Cao Niên Việt Nam NSW, đặc biệt là bài hồi đáp của ông Nguyễn Văn Miêng đương nhiệm hội trưởng của hội này. Tránh sự dài dòng, tôi xin đi thẳng vấn đề.

1- Để minh chứng cho sự ngay thẳng của sinh hoạt hội, mà nhiều sự ngộ nhận đã xảy ra trong suốt 25 năm ông Miêng làm hội trưởng, nên ông đã đưa ra một ví dụ về Quang Học. Điều này chứng tỏ ông là người có trí nhớ và hiểu biết. Ông viết: “thực tế thì cây chèo vẫn thẳng. Chúng ta đã có cái nhìn biểu kiến, thấy vậy mà chưa hẳn như vậy, vì có những thực tế trớ trêu, mà chỉ có người trong cuộc mới cay đắng trải nghiệm”. Thưa ông: ví dụ này cho phép hội viên có cái nhìn ngược lại. Ông đã từng tuyên bố nhiều lần về thành quả tốt đẹp mà ông thực hiện được. Coi vậy mà không phải vậy. Nằm trong chăn, mới biết chăn có rận !.
2- Trong đoạn viết của ông trả lời bài của nhà văn Phùng Nhân: “Viết một câu để cho một người già thấy đau đớn như bị sỉ nhục thì dễ…”. Theo bài viết của cô Bích Thủy về việc ông “đấu tố” cô ta trong phiên họp đầu tháng của hội trước đây , như vậy ông có nghĩ là ông đã sỉ nhục một người đàn bà cao tuổi không, thưa ông hội trưởng?

3- Để trả lời bài góp ý của nhà văn Phùng Nhân, ông đã viết: “Có ai thèm dành cái ghế hội trưởng đâu mà phải siết bù lon, phải không nhà văn Phùng Nhân, mặc dầu cái ghế hội trưởng lót bằng “nệm Kim Đan”, vừa êm vừa thông thoáng, không bị chai đít, không bị nổi nhọt, thưa quí vị”. Theo tôi nghĩ, trong cương vị Hội trưởng, ông không nên ăn miếng trả miếng với dư luận như vậy, hãy giải thích, hoặc biện hộ vấn đề bằng văn tự trong sáng, lịch sự, không mỉa mai, bóp chát. Dư luận có thể làm, nhưng ông thì không thể. Ông đã tự mâu thuẩn với chính mình khi so sánh nệm Kim Đan êm, thông thoáng như ghế hội trưởng vậy, rất hấp dẫn và lôi cuốn. Vậy mà ông cho là không thèm dành, dù thực tế ông đã kéo dài chức vị hội trưởng liên tục trong 25 năm??

4- Điểm then chốt và quan trọng trong phần góp ý của nhà văn Phùng Nhân là tu chỉnh nội qui hội về việc giới hạn nhiệm kỳ hội trưởng. Vậy mà cuối bài hồi đáp của ông hội trưởng Miêng chỉ vỏn vẹn một hàng: “về việc giới hạn nhiệm kỳ của Ban Chấp Hành để hội viên thảo luận và biểu quyết”. Thưa ông hội trưởng Miêng, hội viên sẽ thảo luận vấn đề này như thế nào, chừng nào, và phương pháp thực hành ra sao? ông chỉ nói một cách phớt lờ cho qua chuyện, hình như đây là “vấn đề nhạy cảm” của ông vậy?. Hay là ông định “bán cái” cho nhiệm kỳ Ban Chấp Hành sau thực hiện?. Tôi đề nghị: Việc tu chỉnh giới hạn nhiệm kỳ Hội Trưởng và Ban Chấp Hành phải được hoàn tất trước kỳ bầu cử tới. Hơn nữa, theo đề nghị của nhà văn Phùng Nhân và cô Nguyễn Bích Thủy, tôi xin bổ túc: Cần phải giới hạn tuổi tối đa là 80 cho các ứng cử viên. Không có lý do gì mà một vị cao niên trên 80 lại tiếp tục làm việc, trong khi hãy còn khá nhiều hội viên trẻ từ 60 đến 80, nhiều năng lực, kiến thức, sẵn sàng phục vụ hội, mà không cho họ cơ hội.

Tôi mong rằng những điều góp ý trên của tôi sẽ được quí vị hưởng ứng, đẩy mạnh cải tổ để chúng ta có được một tổ chức, hội đoàn lành mạnh, không bè phái, trong sạch và cầu tiến, thích ứng với xã hội văn minh và dân chủ.

Trần văn Từ

Góp ý về hai chữ “AN NAM”

Thỉnh thoảng đọc trên báo Việt Ngữ thấy có một số người dùng chữ “An Nam”, cũng như một số tiệm ăn ở Sydney đặt tên cho cửa tiệm của mình là “An Nam”, không biết những quý vị này có hiểu rõ ý nghĩa của từ ngữ này không? vì vậy xin phép có vài ý kiến về từ ngữ này.

Việt Nam ta đã phải trải qua nhiều thời kỳ nô lệ cho bọn Tàu ở phương Bắc nên sử sách gọi đó những thời kỳ Bắc thuộc. Sự phân chia các thời kỳ Bắc thuộc cũng có nhiều cách khác nhau. Có sách chia làm 3 hoặc làm 4, có người còn chia tới 5 thời kỳ Bắc thuộc. Mỗi cách phân chia đều có cái lý của nó. Xin được kể ra hết:
Bắc thuộc lần thứ nhất từ năm 111 trước TL đến năm 39 sau TL, dưới triều đại phong kiến nhà Triệu, nhà Hán và Đông Ngô. Chấm dứt nhờ cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng đánh thắng quân Hán, giành được 65 thành ở Lĩnh Nam rồi lên ngôi vua.
Bắc thuộc lần thứ hai từ năm 43 đến năm 543, dưới triều đại nhà Đông Hán, Thời kỳ Tam quốc và Lưỡng Tấn Nam Bắc triều. Chấm dứt nhờ cuộc nổi dậy của Lý Bí đại thắng quân Lương, lên ngôi Hoàng đế, thành lập nước Vạn Xuân
Bắc thuộc lần thứ ba từ năm 602 đến năm 938, thời nhà Tuỳ, nhà Đường, nhà Nam Hán. Chấm dứt nhờ công của Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán, lên làm vua thành lập nhà Ngô.
Bắc thuộc lần thứ tư từ năm 1407 đến năm 1427, còn gọi là thời kỳ Minh thuộc. Chấm dứt nhờ thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Lê Lợi lên làm vua, thành lập triều đại nhà Hậu Lê.
Bắc thuộc lần thứ năm khởi đầu từ thời đại Hồ Chí Minh cho đến ngày nay và không biết đến bao giờ mới chấm dứt.
Chúng tôi phải đi lòng vòng như thế chỉ cốt để đề cập đến hai từ An Nam mà người Tàu đã đặt tên cho nước VN ta xem nó có từ thời nào và mang ý nghĩa gì mà thôi.
Người Tàu thuộc Hán tộc là một dân tộc rất kiêu căng, tự mãn. Họ gọi nước họ là Trung quốc, ý nói đó là đất nước ở vùng Trung nguyên, hùng mạnh, văn minh ở trung tâm trái đất.  Các nước ở xung quanh đều là những nước nhỏ, yếu, của những dân tộc man di mọi rợ và phải lệ thuộc Tàu.
Các nước ở phía Bắc sông Hoàng Hà thì họ gọi là Bắc địch hay Bắc rợ, Bắc nguỵ, gồm rợ Kim, rợ Đột Quyết, rợ Khiết Đan, rợ Hung Nô, nay là Mông Cổ bị cho là những dân tộc hung dữ, giả dối, nguỵ tạo,
Các nước ở phía Đông thì họ gọi là Đông di, gồm các dân tộc Triều Tiên và Nhật bản, bị người Trung nguyên cho là lùn và yếu đuối.
Ở phía Tây thì bị gọi là Tây nhung, gồm dân tộc Thổ Phồn, Tây Hạ, nay làTân Cương, Tây Tạng  thì bị người Trung nguyên chê là rợ, là bạc nhược.
Còn nước Việt ta ở phía Nam sông Dương Tử thuộc nhóm Bách Việt, thì họ gọi là Nam man, tức giống dân man di mọi rợ và gian trá ở phía Nam.
Chính vì tư tưởng tự tôn, cao ngạo đó mà Trung quốc từ ngàn xưa đến nay đã coi thường các dân tộc ở xung quanh, gây hấn với tất cả các nước láng giềng, uy hiếp và xâm lấn các nước yếu, khiến hiện nay có nhiều nước như Nội Mông, Tây Tạng đã mất tên trên bản đồ thế giới. Do lòng tham không đáy nên hiện nay Trung quốc tiếp tục chủ trương bành trướng chiếm đất, chiếm hải đảo và từng bước đặt ách thống trị lên toàn cõi VN ta.
Trở lại tên An Nam, hồi thời Bắc thuộc, người Tàu đã nhiều lần đặt tên cho nước ta như Giao Chỉ, Giao Châu, Trấn Nam, Tĩnh Hải quân, nhưng tên An Nam là phổ biến nhất. Nó xuất hiện từ năm 679 trong thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 3, khi nhà Đường đặt tên bộ máy cai trị đất nước ta lúc đó là vùng tây nam tương ứng với Quảng châu và Bắc Việt Nam ngày nay là “An Nam đô hộ phủ”. Như vậy, An Nam có nghĩa là vùng đất ở phía Nam đã được bình trị yên ổn, dưới sự bào bọc và  cai trị của Trung quốc. Từ “An Nam” mặc nhiên mang dấu ấn của một nước bị trị, của một dân tộc đã bị mất nước, làm nô lệ.

Từ đó cho đến ngày nay, bất kể những thời kỳ VN đã giành được độc lập và có tên nước chính thức như Đại Cồ Việt, Đại Ngu, Đại Việt, Đại Nam,.. thì người Tàu vẫn cứ gọi nước ta là An Nam. Rồi kết hợp với lối gọi ngày xưa, để khơi gợi lòng hận thù, hoặc miệt thị, họ gọi dân tộc ta là bọn Nam Man.
Cho đến ngày nay, khi quan hệ giữa hai nước CS này đã trở nên thắm thiết với 16 chữ vàng, thì chính quyền Trung quốc vẫn dạy cho con dân họ rằng đất nước VN từ xưa đã thuộc về Trung quốc và luôn miệng gọi chúng ta là bọn Nam Man.
Từ An Nam hay Nam Man như vậy đều có nghĩa xấu đã được đặt ra và sử dụng với thâm ý độc địa của bọn người bành trướng phương Bắc. Họ không những miệt thị người Việt mà còn ngầm khẳng định nước Việt ta trước sau vẫn thuộc quyền cai trị của Trung quốc, rằng Việt Nam từ lâu đã thuộc phần lãnh thổ của Trung quốc rồi. Vậy mà cũng có một “học giả” VN uyên thâm Hán học, dùng lối chiết tự chữ “an” của Tàu 安 (gồm chữ nữ đứng dưới bộ miên tượng mái nhà) để nói rằng, nhiều người VN thường mang mặc cảm tự ti nên cứ nghĩ từ An Nam là xấu, thực ra khi người Tàu đặt tên An Nam cho nước ta là có ý tốt, như người con gái được che chở, được an vui khi sống dưới mái nhà vậy! Cái bọn trí thức vong nô kiểu này bây giờ đầy dẫy nhan nhản khắp nơi, chả hơi sức đâu mà liệt kê tên tuổi chúng cho bẩn ngòi bút.
Chỉ tội cho người dân mình, từ mấy chục năm nay không được học sử nước nhà nên họ nào biết gì đâu về những nỗi vinh nhục của cha ông mình trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước ngày xưa, nói chi đến hai từ An Nam. Có người còn đặt tên cho thương hiệu mua bán, cho quán ăn của họ là ANNAM nữa, có lẽ vì thấy nó êm tai, lại giống tên Tây ắt sẽ hấp dẫn thực khách. Mà thực khách là ai vậy? Họ chả ở đâu xa, ở bất cứ nơi nào có người Việt, thậm chí ở ngay nơi được mệnh danh là “Thủ đô của người Việt tỵ nạn”. Chắc họ cũng không biết hay giả vờ không biết ý nghĩa của hai từ An Nam nên rất vô tư ra vào thưởng thức các món ăn khoái khẩu cho ấm cái bao tử, không cần phải nghĩ ngợi gì cho mệt xác. Thật đáng buồn!
Đó là chúng ta chỉ mới đề cập tới cái ngu ngơ, thiếu hiểu biết của người mình thôi. Biết đâu trong chuyện này lại không có bàn tay nhơ nhớp của bọn Tàu bành trướng nhúng vào.

Nghĩa Sỹ

Be the first to comment

Leave a Reply