Vì sao căng thẳng Bắc – Nam vẫn âm ỉ trong xã hội Việt Nam?

Nguyễn Anh Tuấn

21-1-2026

“Giọt máu ném ra ngoài sân

Thì em trong số vô phần” (Trầm Tử Thiêng)

– Bài viết chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc XIV –

THỐNG NHẤT

Kể từ sau ngày 30/4/1975, không năm nào mà câu chuyện hoà hợp hoà giải, thống nhất lòng người không được mang ra thảo luận.

Đến tận 50 năm sau, vào dịp kỷ niệm A50, lập luận quen thuộc lại xuất hiện: nhìn dân chúng nô nức trên mạng lẫn ngoài đường xem diễu binh như vậy, chẳng phải lòng người đã thống nhất rồi sao, còn bàn cãi gì nữa?

Nếu đơn giản như vậy, hẳn Bắc Hàn đã là một quốc gia đoàn kết trên dưới một lòng. Vậy thì vì sao mỗi năm vẫn có người liều chết đào tẩu? Hay như Đông Đức năm 1989, đến tháng 10 dân Berlin vẫn tưng bừng đổ ra đường xem diễu binh kỷ niệm 40 năm Quốc khánh. Vậy mà chỉ vài tuần sau, chính những con người đó đã đập đổ bức tường ô nhục của thành phố, mở đầu cho sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu.

Thái độ của công chúng là thứ rất khó nắm bắt, ngay cả ở những quốc gia dân chủ tự do, nơi thăm dò dư luận độc lập được tiến hành thường xuyên. Huống hồ là ở một nơi mà truyền thông dòng chính lẫn mạng xã hội đều bị kiểm soát và thao túng ở mức cao, nơi chỉ cần bày tỏ cảm xúc trái ý chính quyền cũng có thể kéo theo những hậu quả rất cụ thể.

CHIA RẼ

Nếu thống nhất lòng người là chuyện đơn giản và đã đạt được từ lâu, hẳn Tổng Bí thư Tô Lâm không cần phải tiếp tục kêu gọi hoà hợp hoà giải trong bài viết dịp 30/4 vừa rồi, khi chiến tranh đã kết thúc tròn 50 năm [1].

Nhưng hãy tạm gác câu chuyện hoà giải với người Việt hải ngoại sang một bên.

Ngay trong lòng xã hội Việt Nam, chia rẽ Bắc – Nam vẫn là một thực tế âm ỉ. Nó hiếm khi được gọi tên công khai vì tính chất cấm kỵ, nhưng liên tục bùng lên qua vô số tranh cãi ngoài đời và trên mạng, từ đề tài vùng miền cho đến những so sánh kiểu Sài Gòn – Hà Nội.

Những người cầm quyền có biết điều này không?

Không những biết, họ còn rất nhạy cảm. Đến mức năm 2018, họ đình bản báo Tuổi Trẻ ba tháng chỉ vì tờ báo này đăng bình luận của độc giả cho bài viết “Sao trong quy hoạch chưa thấy cao tốc cho miền Tây?”, với lý do gây “mất đoàn kết dân tộc” [2].

Họ hiểu rất rõ rằng, khác với những bất đồng gắn với quá khứ chiến tranh đã lùi xa, sự chia rẽ này gắn trực tiếp với cách phân bổ quyền lực và quyền lợi hiện tại. Những thứ đã kết tinh đủ lâu để trở thành căn cước chính trị của chính họ, và vì thế, không dễ gì thay đổi.

QUYỀN LỢI

Bất công trong phân bổ lợi tức quốc gia ở Việt Nam là điều không khó nhận ra. Suốt 15 năm qua, trong khi tỷ lệ ngân sách được giữ lại của Sài Gòn giảm dần từ khoảng một phần ba xuống 23%, rồi 18% và hiện nay là 21%, thì con số này của Hà Nội luôn ổn định quanh mức một phần ba, có thời điểm lên tới 35% [3]. Tuyệt đại đa số các tập đoàn nhà nước lớn đặt trụ sở tại Hà Nội, giúp khoản thu ngân sách từ khối doanh nghiệp trung ương quốc doanh của thủ đô gấp 4 lần Sài Gòn (24 ngàn tỷ đồng so với 6 ngàn tỷ đồng, năm 2025) [4].

Hệ quả là trong nhiều năm liền, nơi đông dân hơn, nhiều doanh nghiệp hơn, đóng góp nhiều hơn cho ngân sách quốc gia là Sài Gòn lại được chi ít hơn Hà Nội, nơi ít dân hơn, ít doanh nghiệp hơn và đóng góp kém hơn, nhưng lại có nhiều đảng viên hơn.

Kết quả thấy rất rõ ở sự chênh lệch hạ tầng. Đến mức một Thứ trưởng Giao thông vài năm trước đã thừa nhận thẳng thắn rằng hạ tầng giao thông đường bộ TPHCM kém xa Hà Nội [5]. Và không chỉ giao thông. Từ giáo dục, y tế cho đến văn hoá, thể thao, Hà Nội luôn được ưu ái hơn.

Bất công này càng trở nên trớ trêu khi trong vài năm gần đây, thu ngân sách của Hà Nội đã bắt kịp, thậm chí có lúc vượt Sài Gòn [6]. Nhưng không ai lấy đá ghè chân mình. Cho đến nay, chưa có dấu hiệu nào cho thấy nhóm cầm quyền ở Hà Nội sẵn sàng điều chỉnh lại tỷ lệ phân chia này.

Bất công giữa hai thành phố phản ánh một phần bức tranh rộng hơn giữa hai miền mà chúng đại diện. Có đi về miền Tây mới thấy sự bần cùng hoá có tính hệ thống mà chính quyền trung ương ở Hà Nội áp đặt lên vùng đất này đang khiến một khu vực từng nổi tiếng về sự trù phú trong quá khứ trở thành một nơi không có hi vọng ra sao.

QUYỀN LỰC

Bất công về lợi tức chỉ có thể tồn tại nhờ sự mất cân bằng vùng miền trong bộ máy đảng và chính quyền. Một nghiên cứu cho thấy từ Đại hội XI đến nay, số Uỷ viên Trung ương Đảng xuất thân từ miền Bắc luôn chiếm đa số [7].

Chưa kể những cơ cấu quyền lực then chốt như Bộ Chính trị, Chính phủ, Quân đội hay Công an, nơi đại diện miền Nam ngày càng thưa thớt.

Trong quá khứ, lãnh đạo cộng sản miền Bắc từng dè dặt trước căng thẳng vùng miền, nên chấp nhận những thoả hiệp bất thành văn để xoa dịu. Chẳng hạn như “tam đầu chế” – Tổng Bí thư miền Bắc, Chủ tịch nước miền Trung, Thủ tướng miền Nam, hoặc phân chia Bắc – Nam giữa vị trí Bộ trưởng Quốc phòng và Công an [8]. Họ cũng chấp nhận việc lãnh đạo tỉnh thành là người địa phương và giữ mức can thiệp trung ương ở giới hạn nhất định.

Nay thì họ đã đủ tự tin để gom hết quyền lực về mình. Chẳng những chiếm đoạt các cơ cấu quan trọng ở trung ương, thông qua cái gọi là luân chuyển cán bộ, quá trình “Bắc hoá” ban lãnh đạo các tỉnh thành miền Nam diễn ra ngày càng mạnh mẽ, trong khi ở chiều ngược lại rất ít ỏi.

Không chỉ ở cấp Bộ trưởng hay Thứ trưởng, xu hướng này còn lan xuống tận cấp cục, vụ, nơi trực tiếp soạn thảo chính sách. Bước vào các cơ quan trung ương, nơi lẽ ra phải phản ánh tiếng nói của cả quốc gia, người ta gần như chỉ còn nghe thấy duy nhất giọng Bắc. Một giọng nói vốn không có gì đáng chê, bỗng trở nên đơn điệu và áp đặt trong một khung cảnh cần sự đa dạng.

Ngay cả ngành ngoại giao cũng vậy. Đã bao lâu rồi người ta không còn nghe thấy một giọng miền Nam trong hàng ngũ đại sứ là những người đại diện quốc gia trên trường quốc tế? Người miền Nam kém cỏi về ngoại giao đến thế sao? Vậy thì vì sao đã từng có thời, giọng miền Nam của bà Bình lại được Hà Nội sử dụng như tiếng nói lương tri của dân tộc trước thế giới?

Họ đã làm điều đó bằng cách nào?

QUA CẦU RÚT VÁN

Câu trả lời nằm ở chính sách lý lịch hà khắc được áp dụng suốt nhiều thập kỷ trong nội bộ đảng cầm quyền.

Bằng cách loại bỏ gần như toàn bộ những người có liên hệ gia đình với chế độ cũ, người theo Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hoà Hảo, người gốc Hoa khỏi con đường đảng viên, một bộ phận rất lớn người sinh ra ở miền Nam bị chặn đứng mọi cơ hội thăng tiến chính trị. Nhiều người trong số họ thậm chí không thể trở thành sĩ quan quân đội hay công an vì yêu cầu bắt buộc phải là đảng viên.

Đó là lý do vì sao đảng viên từ vĩ tuyến 17 trở ra chiếm tới khoảng 70% toàn Đảng, trong khi dân số khu vực này chưa đến một nửa, theo một thống kê của Bloomberg. Đầu vào như vậy thì việc Trung ương Đảng và Bộ Chính trị luôn áp đảo bởi người miền Bắc là điều tất yếu.

Ngay cả khi có những người cộng sản miền Nam vươn lên vị trí cao, họ cũng bị ngăn khỏi cơ hội trở thành Tổng Bí thư vì những lý do không liên quan đến năng lực. Võ Văn Kiệt kém Đỗ Mười điểm gì để không thể trở thành Tổng Bí thư, chưa kể phải nhường một khoá Thủ tướng cho chính nhân vật thủ cựu tai tiếng vì đánh tư sản này? Trường hợp Nguyễn Tấn Dũng cũng là một điển hình khác, khi mà những người cộng sản miền Bắc ưa lý luận đã “đánh dưới thắt lưng” một cách rất bẩn thỉu chuyện ông làm sui với người chế độ cũ trong nỗ lực ngăn ông đến vị trí A1.

Chính vì thế, dù Đảng luôn phủ nhận, nhưng giai thoại về câu nói của Nguyễn Phú Trọng rằng “Tổng Bí thư phải là người Bắc có lý luận” vẫn được đông đảo công chúng tin là có thật. Người ta tin vì nó phù hợp với những gì đã và đang diễn ra.

MIỀN NAM LÀM GÌ?

Không rõ những người cộng sản miền Nam nghĩ gì về vị thế đảng viên hạng hai mà các đồng chí miền Bắc đang áp đặt lên họ. Có vẻ họ chấp nhận tiếp tục vai phụ hoạ mà các tiền bối như Tôn Đức Thắng hay Mặt trận Dân tộc Giải phóng từng vô tình hay cố ý đảm nhận cho vở kịch “đoàn kết quốc gia” của giới lãnh đạo cộng sản miền Bắc, để đổi lấy chút lợi ích theo đóm ăn tàn, thay vì lên tiếng trước những bất công rõ ràng về quyền lực và quyền lợi.

Làm như vậy, liệu họ có thấy hổ thẹn với những bậc tiền nhân Nam Kỳ? Những người khi bị Tây Sơn, một đạo quân từ phương Bắc, giày xéo đã dám đứng lên bảo vệ quyền sống và quyền tự do của mình, xây dựng một vương triều nơi họ có thể sống theo cách họ lựa chọn. Những quyền ấy là phải giành lấy, chứ không phải chờ được ban phát.

Bằng việc duy trì và củng cố các chính sách bất bình đẳng về quyền lực và quyền lợi, làm sâu thêm căng thẳng Nam – Bắc, chính giới lãnh đạo cộng sản miền Bắc mới là những người đẩy Việt Nam đứng trước rủi ro nhẹ thì lòng người chia rẽ, nặng thì lãnh thổ phân ly, giữa một thế giới đầy biến động trong tương lai, dù họ có thể không sẵn sàng thừa nhận điều đó. Trớ trêu thay, đây lại là kịch bản mà họ lo sợ nhất, bởi không gì bất lợi hơn đối với Hà Nội bằng việc phải đối mặt với Trung Quốc mà thiếu hậu cứ có chiều sâu chiến lược ở miền Nam, một phiên bản của Bắc Hàn.

Đó là chưa nói, trong bối cảnh hiện tại, một cuộc qua phân lãnh thổ chưa chắc mang lại lợi thế cho miền Bắc vì hai lý do. Thứ nhất, Bắc Kinh sẽ hoàn toàn thoải mái với một Việt Nam bị chia đôi, như họ từng cố gắng duy trì trong lịch sử, và khi đó Hà Nội sẽ không còn dễ dàng mượn đường hai quốc gia láng giềng thân Trung Quốc hiện nay là Lào và Campuchia để tiến vào miền Nam như trước. Thứ hai, nước Nga yếu kém đang kẹt trong chiến tranh không phải là một Liên Xô để miền Bắc có thể dựa lưng trước áp lực ngày càng trực diện từ Bắc Kinh.

Người miền Nam cũng là người Việt Nam, không ai mong muốn phân ly lãnh thổ, dù lịch sử gần đây từng chứng kiến nhiều thế kỷ chia cắt. Nhưng, cũng như đoàn kết thực sự chỉ có thể đến từ tôn trọng sự khác biệt, thống nhất chỉ có ý nghĩa khi đi kèm bình đẳng giữa hai miền, mà bình đẳng quan trọng nhất là bình đẳng về cơ hội, đặc biệt là cơ hội thăng tiến trong guồng máy quốc gia. Một sự thống nhất giả tạo, dựa trên phân hạng công dân và chiếm đoạt lợi quyền, là thứ mà người Việt không cần.

Khác với một đảng cộng sản mang căn cước chính trị phân biệt vùng miền, người Việt tương lai sẵn sàng chấp nhận sự lãnh đạo không phân biệt Bắc, Trung hay Nam, tôn giáo, sắc tộc hay lý lịch gia đình, miễn đó là người được lựa chọn thông qua một cuộc phổ thông đầu phiếu tự do và công bằng, bằng năng lực và tư cách của họ.

Và cũng chỉ trong một thể chế như vậy, hoà giải dân tộc – bước đầu tiên cho một quốc gia đi đến phẩm giá và phú cường – mới có thể thực sự bắt đầu.

Related posts