Starlink đã ‘tư nhân hóa’ địa chính trị như thế nào?

Nguồn: Robert Muggah và Misha Glenny, “Starlink Has Privatized Geopolitics”, Foreign Policy, 20/03/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Starlink không chỉ đơn thuần là một dịch vụ kết nối vệ tinh thương mại. Nó là một hạ tầng chiến lược đang ngày càng định hình cách thức tiến hành chiến tranh, cách các quốc gia quản lý bất ổn nội bộ và cách các mạng lưới tội phạm vận hành trong những không gian không chịu sự kiểm soát của luật pháp. Điều làm cho Starlink có tầm ảnh hưởng chính trị to lớn không chỉ là phạm vi bao phủ toàn cầu mà còn là mô hình quản trị đứng sau nó.

Một công ty tư nhân hiện đang đóng vai trò là người gác cổng ngoài không gian, giúp quyết định ai được kết nối mạng, kết nối ở đâu, dưới những điều kiện nào và với những hạn chế kỹ thuật gì. Khi số lượng các cuộc xung đột ngày càng tăng, những quyết định này mang lại các hiệu ứng quân sự và chính trị mà các quốc gia khó có thể mô phỏng hoặc kiểm soát. Nếu nhiều chuỗi cung ứng chiến lược hiện nay phụ thuộc vào các công ty tư nhân, thì Starlink là một trường hợp tập trung quyền hạn cá nhân bất thường đối với các chức năng an ninh công cộng.

Tầm vóc địa chính trị của Starlink tỉ lệ thuận với quy mô của nó. Tính đến giữa tháng 12 năm 2025, đã có 9.357 vệ tinh Starlink ngoài không gian. Vào tháng Giêng, Ủy ban Truyền thông Liên bang Mỹ (FCC) đã cấp phép cho SpaceX triển khai thêm 7.500 vệ tinh thế hệ thứ hai, nâng tổng số lên gần 17.000. SpaceX từ lâu đã ra dấu hiệu về tham vọng vận hành lên tới 42.000 vệ tinh.

Phạm vi tiếp cận của Starlink cũng đang mở rộng. Dịch vụ này hiện đã hoạt động tại 160 thị trường, làm tăng gấp bội số lượng quân đội, các cơ quan quản lý viễn thông và cơ quan thực thi pháp luật phải đối mặt với các quyết định của nó. Sự thống trị của công ty trở nên rõ ràng hơn khi đặt cạnh các đối thủ cạnh tranh: Eutelsat OneWeb, đối thủ đáng gờm nhất trên quỹ đạo tầm thấp, hiện có khoảng 650 vệ tinh đang hoạt động, trong khi chùm vệ tinh Kuiper của Amazon vẫn nhỏ hơn nhiều, chỉ mới vượt qua con số 200 vệ tinh vào tháng Hai. Starlink là một thực thể gần như độc quyền và không có đối thủ tương xứng trong tương lai gần.

Starlink cho biết hiện họ có hơn 10 triệu khách hàng đang hoạt động trên toàn thế giới và SpaceX đang đặt mục tiêu tăng hơn gấp đôi con số đó vào cuối năm 2026. Sự tăng trưởng này được củng cố bởi các quan hệ đối tác với các nhà mạng di động, bao gồm T-Mobile tại Mỹ, trong khi Deutsche Telekom có kế hoạch ra mắt dịch vụ kết nối vệ tinh trực tiếp tới điện thoại di động sử dụng nền tảng Starlink tại Châu Âu từ năm 2028.

Lợi thế thương mại của Starlink nằm ở việc kết nối internet ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa và các khu vực bị thiên tai nằm ngoài tầm với của các cột sóng mặt đất hoặc cáp quang. Thế nhưng, chính việc nắm quyền kiểm soát một lớp truyền thông thiết yếu như vậy đã mang lại cho công ty một ảnh hưởng địa chính trị quá mức—đặc biệt là trong các cuộc xung đột, tình trạng khẩn cấp và các bối cảnh mà khả năng kết nối có thể định đoạt các kết quả quân sự, chính trị và nhân đạo

Ukraine là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy Starlink có thể ảnh hưởng đến thông tin liên lạc trên chiến trường và gây ra sự phụ thuộc chiến lược như thế nào. Sau khi cuộc xâm lược toàn diện của Nga năm 2022 làm tê liệt các mạng lưới mặt đất, các thiết bị đầu cuối Starlink đã trở thành hạ tầng tác chiến trong một cuộc chiến được định nghĩa bởi drone, chỉ huy phân tán và các chu kỳ xác định mục tiêu thần tốc. Đến đầu năm 2025, Ukraine đã sở hữu ít nhất 47.000 thiết bị đầu cuối Starlink, với đại đa số được cung cấp thông qua các chính phủ đối tác và các nhà tài trợ khác, bao gồm Ba Lan, Đức, Mỹ và chính SpaceX. Nếu không có băng thông di động kiên cường, lực lượng Ukraine đã không thể truyền dữ liệu drone, phối hợp hậu cần hoặc duy trì mạng lưới hỗ trợ hỏa lực phi tập trung vốn là đặc trưng của cuộc xung đột này. Các thiết bị đầu cuối không phải là một tiện nghi, mà là một điều kiện để kháng chiến hiệu quả.

Sự lệ thuộc ấy vô hình trung đã tạo ra một kẽ hở cho các cuộc tấn công. Các lực lượng Nga được báo cáo là đã có được quyền truy cập Starlink thông qua các kênh bên thứ ba, và việc sử dụng mạng lưới này tại các vùng lãnh thổ do Nga kiểm soát đã trở thành một mối quan ngại lặp đi lặp lại vào năm 2024. Vấn đề nghiêm trọng đến mức SpaceX và Bộ Quốc phòng Ukraine phải áp dụng các kiểm soát xác thực để hạn chế các kết nối trái phép. Các quan chức Ukraine cho biết việc Nga sử dụng ở tiền tuyến đã bị gián đoạn, và các cố vấn quân sự mô tả đây là một bước lùi đáng kể cho các hoạt động của Nga.

Trình tự này mang tính gợi mở: Những quyết định được đưa ra bên trong một công ty bởi các kỹ sư áp dụng các chính sách truy cập thương mại đã thay đổi sự cân bằng chiến thuật trong một cuộc chiến thực sự. Không có hiệp ước nào cho phép điều đó. Không có nghị viện nào bỏ phiếu về nó. Logic cầm quyền ở đây chỉ đơn giản là các điều khoản dịch vụ của một doanh nghiệp.

Các khía cạnh chiến lược và địa chính trị thậm chí còn gay gắt hơn. Vào đầu năm 2025, các nhà đàm phán Mỹ bị cáo buộc đã đe dọa hạn chế quyền truy cập Starlink của Ukraine nếu nước này không chấp nhận một thỏa thuận về khoáng sản thiết yếu. Chủ sở hữu SpaceX, Elon Musk, đã phủ nhận mối liên hệ này, nhưng mức độ tin cậy của mối đe dọa và sự lo lắng mà nó tạo ra ở Kyiv có ý nghĩa quan trọng hơn cả những chi tiết chính xác của nó.

Một sự việc trước đó đã tạo tiền lệ: Vào năm 2022, Musk được báo cáo là đã từ chối kích hoạt phủ sóng Starlink gần Crimea đang bị Nga chiếm đóng để hỗ trợ một chiến dịch tác chiến drone hải quân của Ukraine, với lý do cá nhân là lo ngại rủi ro leo thang xung đột. Khi một nhà cung cấp tư nhân có thể quyết định quốc gia ở tiền tuyến được phép thực hiện hoạt động nào dựa trên trực giác cá nhân, mối quan hệ này không còn là thương mại nữa. Đó là sự ủy thác chủ quyền, một chức năng chiến lược được thực thi bởi một lãnh đạo không chịu trách nhiệm trước cử tri.

Iran cung cấp một ví dụ khác về tác động địa chính trị của Starlink. Sau khi các cuộc biểu tình nổ ra vào tháng Giêng, chế độ này đã áp đặt một trong những đợt cắt Internet dài và nghiêm trọng nhất từng được ghi nhận, làm giảm khả năng kết nối internet quốc gia xuống còn khoảng 4% mức bình thường. Hàng chục nghìn thiết bị đầu cuối Starlink—được buôn lậu vào nước này và giao dịch trên thị trường chợ đen trong những năm gần đây—dường như đã trở thành một kênh quan trọng để hình ảnh về các cuộc đàn áp tiếp cận được với thế giới bên ngoài. Phí thuê bao được báo cáo là đã được miễn cho người dùng ở Iran, và chính quyền Trump đã bí mật chuyển khoảng 6.000 bộ thiết bị Starlink bổ sung vào nước này, coi các thiết bị này không đơn thuần là hàng tiêu dùng mà là công cụ trong chính sách đối ngoại của Mỹ.

Phản ứng của Tehran là chưa từng có. Nhà chức trách đã triển khai các thiết bị gây nhiễu mặt đất, giả mạo GPS và các đơn vị can thiệp di động tại các khu dân cư. Các cơ quan an ninh được cho là đã tiến hành khám xét từng nhà, sử dụng drone và chỉ điểm để định vị các đĩa vệ tinh và thiết bị đầu cuối, đồng thời cáo buộc người dùng tội gián điệp. Các nhà lập pháp Iran trước đó đã hình sự hóa việc sở hữu và sử dụng trái phép thiết bị Starlink, với án tù cho các vi phạm thông thường và các hình phạt nặng hơn nhiều, bao gồm cả tử hình, liên quan đến tội gián điệp hoặc cộng tác. Iran cũng đã đệ đơn khiếu nại chính thức lên Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), lập luận rằng Starlink vi phạm chủ quyền quốc gia của họ.

Giai đoạn thứ hai mở ra vào ngày 28 tháng 2, khi Mỹ và Israel phát động các cuộc tấn công phối hợp vào các mục tiêu quân sự, hạt nhân và chính phủ của Iran. Việc ám sát Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei đã kích hoạt các làn sóng trả đũa bằng tên lửa và drone của Iran nhắm vào Israel, các căn cứ của Mỹ trên khắp Trung Đông, các quốc gia vùng Vịnh và một số nước khác. Khả năng kết nối ở Iran sụp đổ thêm, xuống còn khoảng 1% mức bình thường.

Trong giai đoạn này, vai trò của Starlink thực sự trở nên nghịch lý. Các thiết bị đầu cuối lậu cho phép một số người Iran ghi lại cảnh tấn công vào các tòa nhà chính phủ và phát tán các thước phim bất chấp những nỗ lực hạn chế liên lạc của chính quyền. Nhưng quyền truy cập vào kết nối vệ tinh dường như không chỉ giới hạn ở những người bất đồng chính kiến. Khi các mạng lưới truyền thống xuống cấp, Starlink cũng có thể đã được truy cập bởi các thực thể liên quan đến chính quyền. Các nhà nghiên cứu an ninh mạng cáo buộc rằng một số hoạt động liên quan đến Bộ Tình báo và An ninh Iran dường như xuất phát từ dải IP của Starlink trong thời gian cắt Internet. Đồng thời, chính quyền Iran cũng được báo cáo là đã gây nhiễu hoặc làm giảm chất lượng truy cập Starlink của dân thường đang tìm cách vượt qua kiểm duyệt.

Trong một diễn biến khác, một nhóm an ninh mạng đã phát hiện ra các mã độc giám sát sử dụng mồi nhử mang chủ đề Starlink, điều này minh họa cho việc cùng một nền tảng truyền thông có thể bị lợi dụng bởi cả những người biểu tình, những kẻ vận hành giám sát và các tác nhân mạng có liên hệ với nhà nước.

Bộ Quốc phòng Mỹ đã coi Iran là một trường hợp điển hình để đánh giá cách thức các hệ thống quỹ đạo thấp hoạt động dưới sự can thiệp điện tử kéo dài và sự gián đoạn trong thời chiến. Nếu áp lực liên tục có thể làm suy giảm đáng kể khả năng phục hồi của Starlink, thì những giả định làm nền tảng cho vai trò của nó trong một kịch bản xung đột tại Đài Loan, chẳng hạn, sẽ cần phải được xem xét lại. Điều đó có nghĩa là không thể mặc định tính kiên cường của một mạng lưới chỉ vì nó được đặt ngoài không gian.

Công nghệ Starlink cũng đang rơi vào tay các mạng lưới tội phạm và quân nổi dậy. Các nhóm tội phạm nắm bắt được sức mạnh của truyền thông phân tán để hỗ trợ hoạt động của chúng. Đối với các quốc gia yếu hơn với khả năng quản trị kém và có ít đòn bẩy đối với SpaceX, thách thức là ngay tức thì: Khi kết nối đến từ trên cao thay vì qua các tháp sóng và cáp địa phương, việc quản lý truy cập ở các địa hình xa xôi hoặc môi trường tranh chấp trở nên khó khăn hơn—và lại càng bế tắc hơn khi muốn thương thảo các điều kiện để một công ty tư nhân đứng ra giúp đỡ.

Rừng nhiệt đới Amazon của Brazil là một ví dụ cụ thể. Vào tháng 6 năm 2025, Văn phòng Công tố Liên bang của nước này đã đạt được một thỏa thuận với Starlink để hạn chế việc sử dụng dịch vụ này trong khai thác mỏ bất hợp pháp và các hoạt động tội phạm. Thỏa thuận yêu cầu nhận dạng và bằng chứng cư trú cho người dùng mới ở khu vực Amazon và cho phép chia sẻ dữ liệu với chính quyền Brazil đối với các thiết bị đang bị điều tra. Theo thỏa thuận, dịch vụ có thể bị tạm dừng đối với các thiết bị liên quan đến hoạt động bị nghi ngờ là bất hợp pháp. Hugo Loss, điều phối viên hoạt động của cơ quan môi trường Brazil, đã nhấn mạnh cách các nhóm tội phạm sử dụng Starlink để truyền vị trí thời gian thực của các đội thực thi pháp luật, từ đó dự đoán các cuộc đột kích và đe dọa an toàn của các sĩ quan tại hiện trường. Brazil đã đạt được một thỏa thuận khả thi, nhưng chỉ sau khi vấn đề này đã bén rễ sâu trong các hoạt động tội phạm môi trường.

Bối cảnh tội phạm có tổ chức của Mexico cũng chỉ ra một rủi ro tương tự. Các băng đảng đã sử dụng drone để buôn lậu, giám sát và tấn công các lực lượng an ninh trong một cuộc chạy đua vũ trang kỹ thuật ngày càng mở rộng dọc biên giới Mỹ. Sự leo thang đó hiện đang tràn vào việc quản lý không phận dân dụng. Vào tháng Hai, Cục Hàng không Liên bang Mỹ (FAA) đã đột ngột đóng cửa không phận xung quanh El Paso, Texas, do lo ngại về việc triển khai các biện pháp chống drone của Mỹ, trước khi dỡ bỏ hạn chế vài giờ sau đó. Sự việc cho thấy các mối đe dọa drone từ tội phạm có thể kích hoạt không chỉ các phản ứng an ninh chiến thuật mà còn cả những gián đoạn nghiêm trọng về ngoại giao và hàng không.

Ở khu vực Sahel của Châu Phi, mô hình này còn đáng báo động hơn. Các nhóm quân nổi dậy như Jama’at Nasr al-Islam wal Muslimin (JNIM) và Nhà nước Hồi giáo tỉnh Tây Phi đã xây dựng các chuỗi cung ứng bất hợp pháp cho các bộ thiết bị Starlink chạy từ Libya và Nigeria vào Mali, Niger và các vùng xung đột khác. Vào tháng 6 năm 2024, JNIM đã phát hành một video cho thấy một thiết bị đầu cuối Starlink trong một chiến dịch ở vùng Gao của Mali. Các cuộc đột kích của quân đội Nigeria nhắm vào Boko Haram năm ngoái đã thu giữ thiết bị Starlink từ một chỉ huy trong rừng Sambisa.

Xuyên suốt năm 2025, các nhóm thánh chiến ngày càng sử dụng kết nối vệ tinh để phối hợp các đơn vị phân tán, phát tán các nội dung tuyên truyền và né tránh các hệ thống giám sát dựa trên đánh chặn vốn thường phát huy hiệu quả nhờ sự kiểm soát của nhà nước đối với các mạng lưới mặt đất. Niger và Chad đã tiến tới hợp pháp hóa và quản lý Starlink vào đầu năm 2025 để cải thiện sự giám sát, nhưng các mạng lưới buôn lậu có thể sẽ tiếp tục bất kể điều đó.

Starlink không phải là nhân tố duy nhất. Lĩnh vực thương mại không gian đang tràn ngập các thực thể ngày càng trở nên quan trọng đối với năng lực quân sự và quốc phòng quốc gia. Hệ quả là sự ra đời của một thị trường dịch vụ chiến lược ngày càng mở rộng nơi các quốc gia vừa nỗ lực tận dụng tiềm năng, vừa tìm cách quản lý. Về mặt truyền thông, Iridium vẫn bám rễ sâu trong thông tin liên lạc quốc phòng. Vào năm 2024, công ty đã công bố một hợp đồng 5 năm với Lực lượng Không gian Mỹ cho các dịch vụ vệ tinh di động nâng cao, phản ánh sự phụ thuộc liên tục vào các nhà cung cấp thương mại cho kết nối di động ngoài tầm nhìn trực diện .

Eutelsat OneWeb và Dự án Kuiper của Amazon cũng cạnh tranh trong thị trường quốc phòng và chính phủ, trong khi sáng kiến IRIS2 của Liên minh Châu Âu phản ánh tham vọng của khối này về một năng lực có tính chủ quyền. Dữ liệu hình ảnh thương mại từ Maxar, Planet và BlackSky, cùng với dữ liệu radar từ Capella và ICEYE, hiện đã được tích hợp vào việc xác định mục tiêu quân sự và nhận thức tình huống.

Các cuộc xung đột gần đây đã thắt chặt tất cả những sự dàn xếp này. Các vệ tinh thương mại, thiết bị đầu cuối và đăng ký dữ liệu hiện là một phần của chuỗi cung ứng quân sự. Và cũng giống như đạn dược và các hệ thống phòng không, việc bàn giao chúng có thể bị hạn chế, chuyển hướng hoặc vũ khí hóa dưới áp lực chính trị. Thương mại không gian đang trở thành một phần trong cách các quốc gia thực thi hoặc kìm giữ quyền lực.

Những gì Iran phơi bày một cách sắc bén nhất chính là sự thiếu hụt về quản trị mà trường hợp Ukraine và các trường hợp sử dụng Starlink khác chỉ tiết lộ một phần. Luật nhân đạo quốc tế yêu cầu các quốc gia phải phân biệt mục tiêu quân sự với các đối tượng dân sự, nhưng một thiết bị đầu cuối phục vụ một người bất đồng chính kiến vào buổi sáng có thể hỗ trợ một cuộc tấn công quân sự vào buổi chiều.

Hiện vẫn chưa có khung pháp lý quốc tế thống nhất để quyết định khi nào việc gây nhiễu mạng vệ tinh thương mại nên được coi là sử dụng vũ lực theo Hiến chương Liên Hợp Quốc. Không có quy tắc nào giải quyết liệu việc bí mật bàn giao phần cứng thương mại có phải là một hành động chiến tranh thông tin hay không. Không có cơ chế nào để buộc một nhà điều hành tư nhân phải chịu trách nhiệm khi ý kiến của CEO của họ định hình kết cục chiến trường. Cũng không có sự đồng thuận rõ ràng về nghĩa vụ của các nhà vận hành vệ tinh thương mại có hệ thống dao động giữa mục đích dân sự và quân sự trong thời gian thực.

Kết nối chiến lược hiện nay là vấn đề của quản trị thay vì địa lý. Băng thông đến từ ngoài không gian. Tình báo được mua qua đăng ký thuê bao. Chủ quyền giờ đây đang dần được thực thi thông qua các mối quan hệ với các công ty tư nhân, các thỏa thuận truy cập và các thiết lập kỹ thuật đầy tranh chấp. Một quốc gia nếu không coi hạ tầng vệ tinh thương mại là một sự phụ thuộc chiến lược—với đầy đủ sự kỷ cương, tính dự phòng và nền tảng pháp lý đi kèm—thì khi biến cố xảy ra, quyền kiểm soát sự phụ thuộc đó sẽ rơi vào tay kẻ khác.

Kỷ nguyên địa chính trị mới của Starlink đã hiện hữu. Câu hỏi đặt ra là liệu các quốc gia sẽ chủ động quản trị, hay chỉ mãi là kẻ phản ứng thụ động?.

Robert Muggah là Giám đốc tại Tập đoàn SecDev, đồng sáng lập Viện Igarapé, học giả tại Học viện Robert Bosch, và là đồng tác giả (cùng với Ian Goldin) của cuốn sách Terra Incognita: 100 bản đồ để sinh tồn trong 100 năm tới.

Misha Glenny là Hiệu trưởng của Viện Khoa học Nhân văn (IWM) và là tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng, trong đó có McMafia: Thế giới tội phạm có tổ chức và Nemesis: Cuộc truy quét tội phạm bị truy nã gắt gao nhất Brazil.

Related posts