Nhân câu chuyện cô hướng dẫn viên Lam Kinh nói Tây Sơn là phản động…

Thái Hạo

6-1-2026

1. Chắc ai cũng nhớ mấy câu trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu/ Núi sông bờ cõi đã chia/ Phong tục Bắc Nam cũng khác/ Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”.

Triệu này là Triệu nào? Chính là Triệu Đà, vua của nước Nam Việt, người mà bây giờ trong “sử chính thống” của Việt Nam coi là kẻ xâm lược!

Từ Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi đầu thế kỷ 15, ta thấy Việt Nam vẫn coi Triệu Đà là là vua của nước ta, là một trong những ông tổ. Không những thế, năm 1941, Hồ Chí Minh trong bài thơ dài “Lịch sử nước ta” vẫn chưa thay đổi quan niệm: “Triệu Đà là vị hiền quân/ Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời”.

Thế thì do đâu mà nay Triệu Đà bỗng thành kẻ thù, thành quân xâm lược? Tôi không trả lời câu hỏi ấy trong bài này, chỉ lấy ví dụ này để chúng ta thấy một sự thật rằng, lịch sử là một quá trình diễn giải/ giải thích/ sử dụng và vì thế, không ngừng bị thay đổi. Câu hỏi đặt ra là, vậy đâu là “sự thật lịch sử”, có hay không cái gọi là “sự thật” ấy? Hay, có nhiều sự thật cùng tồn tại: Sự thật của từng thời, từng người, từng thời đại, từng thể chế, từng mong muốn, từng mục đích…?

Như đối với Việt Nam Cộng Hòa, trước đây sách vở chính thống nhất hô bá ứng gọi là “ngụy”, “ngụy quân”, ngụy quyền”. Nhưng từ bộ “Lịch sử Việt Nam” do Viện Sử học biên soạn và phát hành năm 2017, những cách gọi này đã bị bỏ đi. “Trước đây, khi nhắc đến chính quyền Việt Nam cộng hòa, mọi người vẫn hay gọi là ngụy quân, ngụy quyền. Nhưng chúng tôi từ bỏ không gọi theo cách đó mà gọi là chính quyền Sài Gòn, quân đội Sài Gòn” – (PGS.TS Trần Đức Cường, nguyên viện trưởng Viện Sử học).

Vì sao có sự thay đổi này? Một trong những lý do rất quan trọng là vấn đề chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Hoàng Sa và Trường Sa trước 1975 thuộc quyền quản lý của VNCH. “Các nghiên cứu này đã so sánh các cách thức, quan điểm khác nhau và đi đến kết luận rằng việc công nhận hai quốc gia Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 có lợi trong việc tranh biện pháp lý cho chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa trước Trung Quốc”. (Nguồn: https://tuoitre.vn/thua-nhan-viet-nam-cong-hoa-la-buoc-tien-quan-trong-1372210.htm).

Trên đây chỉ là hai ví dụ để thấy rằng, lịch sử đã được/ bị diễn giải như thế nào, và cái gì chi phối nó. Cho nên, cái quan trọng là cần một thái độ khách quan, một tinh thần cởi mở, chấp nhận sự thật, chấp nhận “ký ức tập thể”, chấp nhận “đa ký ức”, chứ không thể cứ tiếp tục đóng khung, dùng những mục đích thực dụng, ngắn hạn để gò lịch sử vào khuôn, dùng ý thức hệ để biến lịch sử thành công cụ chính trị…

2. Giờ nói đến nhà Tây Sơn. Hàng loạt câu hỏi, mà toàn là những câu hỏi quan trọng cần được trả lời, như gốc tích nhà Tây Sơn, họ là ai, nhân danh ai, đại diện cho ai, đã làm những gì, vị trí trong dòng lịch sử, v.v..?

Từ thế kỷ 20, do nhu cầu chống ngoại xâm và đề cao ý thức hệ vô sản (nông dân), Tây Sơn trở nên một biểu tượng, được xây dựng thành thiên tài, là anh hùng hoàn hảo…

Cho đến nay, thậm chí đến những câu hỏi tưởng chừng sơ đẳng như Tây Sơn là ai vẫn còn gây tranh cãi! Quân Tây Sơn, như chính họ xưng với nhà Thanh, là “dòng dõi Chiêm Thành”, bao gồm người thượng, cướp biển Tàu Ô…

Vì lúc ấy ở Đàng Trong, chúa Nguyễn mới là chủ nhân, để tập hợp lực lượng, ban đầu họ giương cao ngọn cờ “phù Nguyễn diệt Trương”, rồi sau khi Hoàng Ngũ Phúc đánh nhà Nguyễn thì họ hàng Trịnh. Đến khi muốn dẹp Trịnh thì họ lại lấy danh nghĩa “phò Lê diệt Trịnh” để dẹp họ Trịnh.

Việc quân Thanh sang để lập lại nhà Lê vừa bị Tây Sơn “thoán đoạt” lại một lần nữa cho Tây Sơn cơ hội để dẹp hẳn nhà Lê, lên ngôi hoàng đế, làm chủ nước Nam.

Trước và cả ngay sau khi “đánh tan quân Thanh” thì Tây Sơn (ban đầu là Nguyễn Nhạc và sau đó là Nguyễn Huệ) đã cho người nhiều lần sang nhà Thanh để cầu phong, và cuối cùng được chấp nhận, sách phong cho làm Quốc vương An Nam, trở thành phiên bang, phiên thần của nhà Thanh.

Đến khi bị Nguyễn Ánh đánh, dù cầu viện nhưng không được triều đình nhà Thanh ra tay bảo vệ, vì đã thu nạp bọn cướp biển và cho đi cướp bóc ở vùng biển các tỉnh phía Nam Trung Quốc. Nguyễn Quang Toản bị chính dân chúng bắt giao nộp cho Nguyễn Ánh. Nhà Tây Sơn chấm dứt sau 14 năm.

Phải thấy rằng, nhà Thanh mang quân sang là để lập lại nhà Lê – vốn là phiên thần chính danh do họ ban phong, đó là trách nhiệm. Cũng phải thấy rằng, khi Tôn Sĩ Nghị đưa quân sang thì Càn Long đã rất nhiều lần ra chỉ dụ là lập Lê Duy Kỳ (Chiêu Thống) lên ngôi xong thì rút quân ngay, phần còn lại họ phải tự cường, từ đây về sau còn mất là do mệnh trời; đi “thảo phạt quân nổi loạn” thì Càn Long chỉ thị rằng lương thảo tự chuẩn bị, không được lấy của triều đình hay người dân An Nam một khúc cây, cọng cỏ. Vì Tôn Sĩ Nghị không nghe theo chỉ dụ rút quân ngay sau khi xong việc, dẫn đến bị đánh tan tành, nên Càn Long đã cách chức tổng đốc Lưỡng Quảng của y.

Lại lưu ý, Tây Sơn chưa bao giờ thống nhất được đất nước. Anh em bất hòa, trở thành cừu thù, đánh giết nhau. Nạn cướp phá cũng trở thành một nỗi khiếp sợ khắp nơi.

Phải thấy rằng, nhà Lê mới là chính danh, cả Trịnh và Nguyễn trên danh nghĩa chỉ là bề tôi của vua Lê. Nhưng khi cả Trịnh và Lê đều bị Tây Sơn diệt thì Nhà Nguyễn nghiễm nhiên có tính chính danh hơn Tây Sơn, đây là lý do mà Tây Sơn không được “con dân” cả Bắc hà và Nam hà ủng hộ.

Tuy nhiên, do nhu cầu chống ngoại xâm và đề cao ý thức hệ, nên từ giữa thế kỷ 20 lịch sử chính thống đã đưa Tây Sơn lên vị trí tối cao, trở thành một biểu tượng đẹp nhất. Đồng thời, cũng vì lý do ấy, mà nhà Nguyễn, một triều đại quan trọng và có công lao to lớn đã mở ra miền Nam ngày nay, thống nhất toàn cõi Việt Nam, xác lập chủ quyền Trường Sa và Hoàng Sa, mở mang thương nghiệp ra hướng biển, xây dựng một nhà nước hoàn chỉnh nhất trong lịch sử, để lại nhiều di sản mà ngày nay chúng ta đang kế thừa… thì bị sỉ nhục và hạ thấp chưa từng có.

Cả Tây Sơn và nhà Nguyễn đều có những mạnh yếu, hay dở, được mất, công tội…, điều ấy thiết nghĩ là bình thường. Nhưng một mặt phải nhìn họ dưới góc độ đóng góp cho quốc gia Việt Nam hiện tại, mặt khác phải luôn đặt họ trong bối cảnh lịch sử đương thời, không thể áp đặt các khung nhận thức và quan niệm cùng mục đích hiện tại để đánh giá và phán xét.

Đi tìm sự thật lịch sử là điều khó khăn muôn vàn. Nhưng việc tôn trọng lịch sử, tôn trọng ký ức lịch sử của cộng đồng lại là điều có thể làm được trong tầm tay, chỉ cần ta bớt định kiến và thực dụng…

Việc cô hướng dẫn viên khu di tích Lam Kinh nói “quân phản động Tây Sơn về đây đốt phá…” có thể chỉ là một tai nạn không chủ ý, cũng có thể là một “ký ức” mà cô vô tình nói ra. Tuy nhiên điều khiến tôi thấy bi hài là hai chữ “phản động” mà cô dùng, nó là sản phẩm của hôm nay, do tiếp xúc với diễn ngôn chính trị thường trực, nên đã âm thầm lặn vào người khi nào không hay. Và đến hôm nay, điều ấy [hai chữ “phản động”] đã chính thức gây hậu quả, ít nhất là cho cá nhân cô…

Nguồn: Tiếng Dân

Related posts