JB Nguyễn Hữu Vinh
10-2-2026

Hiện tại, Cuba không chỉ đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng kinh tế thông thường, mà là một sự sụp đổ hệ thống trên nhiều phương diện.
1. Thực trạng Đời sống, Kinh tế – Xã hội (2025 – 2026)
– Khủng hoảng năng lượng toàn diện: Sau khi đồng minh chiến lược Venezuela thay đổi thể chế (đầu năm 2026), nguồn cung dầu giá rẻ cho Cuba bị cắt đứt. Đất nước Cuba chìm trong bóng tối với các đợt cắt điện kéo dài 18-20 giờ mỗi ngày. Ngay cả nhiên liệu hàng không cũng bị đình chỉ, làm tê liệt ngành du lịch – nguồn thu ngoại tệ sống còn.
– Lạm phát phi mã và khan hiếm nhu yếu phẩm: Tỉ lệ lạm phát duy trì ở mức hai con số (trên 24%), khiến đồng Peso mất giá thảm hại. Người dân phải xếp hàng nhiều giờ chỉ để mua những thực phẩm cơ bản như bánh mì, trứng. Hệ thống tem phiếu (libreta) gần như tan vỡ vì nhà nước không còn nguồn lực để bao cấp.
– Làn sóng di cư kỷ lục: Trong năm tài khóa 2025, có khoảng 450.000 – 500.000 người Cuba đã nhập cảnh vào Mỹ thông qua nhiều con đường khác nhau (chủ yếu là qua biên giới Mexico và đường biển). Đây là mức cao kỷ lục trong lịch sử, vượt xa cả cuộc khủng hoảng Mariel năm 1980. Nếu tính gộp cả giai đoạn 4 năm qua, tổng số người rời bỏ đảo quốc này đã vượt ngưỡng 1,5 triệu người.
Với dân số Cuba khoảng 11 triệu người trước khủng hoảng, con số 1,5 triệu người tương đương với khoảng 14-15% dân số. Đây là cuộc chảy máu chất xám và nhân lực lớn nhất kể từ sau cuộc Cách mạng 1959, để lại một xã hội già hóa và kiệt quệ sức lao động.
– Y tế và Giáo dục xuống cấp: “Niềm tự hào của chủ nghĩa xã hội” nay chỉ còn là cái bóng. Bệnh viện thiếu hụt từ thuốc giảm đau đến bông băng y tế; bác sĩ bỏ việc hoặc di cư hàng loạt.
2. Nguyên nhân: Sự kết hợp của “Sai lầm nội tại” và “Áp lực bên ngoài”
– Hệ thống lỗi thời: Mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, triệt tiêu động lực sản xuất và sự sáng tạo cá nhân. Nhà nước nắm giữ độc quyền nhưng quản lý kém hiệu quả.
– Vỡ các “bình sữa”: Cuba, đất nước được cho là có hai nghề cơ bản: Nghề chính, sản xuất khẩu hiệu, nghề phụ: Xin viện trợ.
Cuba luôn sống dựa vào viện trợ. Đầu tiên là Liên Xô, sau đó là Venezuela. Khi các nguồn này cạn kiệt, nền kinh tế Cuba lộ rõ sự rỗng tuếch vì không có khả năng tự chủ.
– Cải cách nửa vời: Các biện pháp “cập nhật mô hình kinh tế” (cho phép tư nhân hóa nhỏ lẻ) diễn ra quá chậm và đầy rào cản hành chính, chủ yếu nhằm mục đích cứu vãn sự tồn vong của đảng cầm quyền hơn là tự do hóa thực sự.
– Cấm vận từ Mỹ: Các biện pháp trừng phạt từ chính quyền Trump (tái đắc cử) thắt chặt dòng tiền và giao dịch quốc tế, tạo ra áp lực cực lớn lên một nền kinh tế vốn đã mong manh.
Hệ thống tuyên giáo thường đổ lỗi hoàn toàn cho “Cấm vận của Đế quốc Mỹ” (El Bloqueo) để giải thích cho mọi sự nghèo đói. Tuy nhiên, dưới góc độ phản biện, ta cần thấy rõ:
– Cấm vận là ngoại nhân, quản trị là nội nhân: Tại sao các quốc gia khác cũng chịu áp lực nhưng vẫn phát triển? Vấn đề nằm ở chỗ Cuba cấm vận chính người dân của mình thông qua việc hạn chế quyền sở hữu tài sản và tự do kinh doanh.
1. Sự phụ thuộc ý thức hệ: Việc đặt vận mệnh quốc gia vào túi tiền của các đồng minh chính trị (Nga, Venezuela) thay vì xây dựng một nền kinh tế thị trường nội sinh là sai lầm chiến lược của giới lãnh đạo Havana.
2. Nhân quyền và Tự do: Trong khi kinh tế suy sụp, chính quyền vẫn chi mạnh tay cho bộ máy an ninh để đàn áp các tiếng nói đối lập (như các vụ bắt giữ sau cuộc biểu tình 2021 và các đợt bất ổn 2025).
VIỆT NAM GIÚP CUBA TRỒNG LÚA: GIÚP “CẦN CÂU” HAY “CON CÁ”?
Trong chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (tháng 9/2024), vấn đề an ninh lương thực là ưu tiên số 1. Đến đầu năm 2026, các dự án này đã có những kết quả cụ thể nhưng cũng đầy thách thức:
Dự án lúa gạo Việt Nam – Cuba (Giai đoạn 2024-2025): Các chuyên gia Việt Nam đã giúp nâng năng suất lúa tại các tỉnh như Pinar del Río từ 1,6 tấn/ha lên tới 5,8 – 7,2 tấn/ha.
Mô hình cho thuê đất: Doanh nghiệp Việt Nam (như Agri VMA) đã thuê khoảng 1.000 – 2.000 ha đất tại Cuba để trực tiếp canh tác lúa, ngô, đậu tương. Đây là cách Việt Nam “làm mẫu” để người dân Cuba thấy rằng đất đai họ rất màu mỡ, lỗi nằm ở kỹ thuật và quản lý.
Hỗ trợ đầu vào: Việt Nam không chỉ tặng gạo (vừa tặng thêm hàng chục ngàn tấn vào dịp Tết Bính Ngọ 2026) mà còn cung cấp hạt giống lai, phân bón Bình Điền và máy móc nông nghiệp nhỏ phù hợp với thổ nhưỡng.
TẠI SAO CUBA KHÔNG THỂ LÀM ĐƯỢC NHƯ VIỆT NAM?
Đây là câu hỏi mà hệ thống tuyên giáo thường né tránh bằng cách đổ lỗi cho “cấm vận”. Tuy nhiên, thực tế khách quan chỉ ra ba rào cản nội tại mà Cuba chưa (hoặc không dám) phá bỏ như Việt Nam đã làm từ năm 1986:
1. Sự khác biệt về “Khoán 10” và Quyền sở hữu
– Việt Nam: Thành công của lúa gạo Việt Nam bắt đầu từ việc trả quyền tự chủ cho nông dân (Khoán 10). Nông dân được sở hữu sản phẩm dư thừa, từ đó có động lực tăng năng suất.
– Cuba: Vẫn duy trì mô hình nông trường quốc doanh và hợp tác xã kiểu cũ. Nhà nước thu mua hầu hết sản phẩm với giá rẻ mạt. Khi người nông dân không thấy lợi ích sát sườn, họ không thiết tha canh tác. “Đất hoang” tại Cuba chiếm tỷ lệ rất lớn dù đất đai cực kỳ tốt.
2. Tư duy quản lý: Tập trung và Thị trường
– Việt Nam: Đã chấp nhận cơ chế giá thị trường cho vật tư nông nghiệp và đầu ra sản phẩm.
– Cuba: Vẫn loay hoay với cơ chế hai đồng tiền (dù đã hợp nhất nhưng lạm phát vẫn kinh hoàng) và sự kiểm soát giá gắt gao. Nông dân Cuba thiếu dầu để chạy máy cày, thiếu phân bón vì nhà nước không có ngoại tệ để nhập, trong khi tư nhân lại không được phép tự do xuất nhập khẩu.
3. “Cái bẫy” bao cấp và tâm lý ỷ lại
Trong nhiều thập kỷ, Cuba sống dựa vào sự bao cấp từ Liên Xô và dầu giá rẻ từ Venezuela. Điều này tạo ra một bộ máy quản lý thụ động. Khi “nguồn sữa” bị cắt, hệ thống không kịp thích nghi.
Việt Nam, trái lại, bị đẩy vào thế chân tường sau năm 1975 và bị cắt viện trợ từ sớm, buộc phải “tự bơi” và đổi mới để sinh tồn.
Tuyên giáo thường nói: “Việt Nam và Cuba là hai anh em cùng tiến”. Nhưng nhìn vào con số:
– Việt Nam: Từ một nước thiếu ăn, trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
– Cuba: Từ một nước có điều kiện tự nhiên lý tưởng, nay phải nhập khẩu 80% lương thực.
Bản chất vấn đề: Việt Nam đã dám “cởi trói” cho tư nhân và chấp nhận quy luật thị trường (dù vẫn nói là định hướng XHCN). Cuba thì ngược lại, sự lo sợ mất quyền kiểm soát của Đảng Cộng sản Cuba đối với nền kinh tế lớn hơn cả nỗi lo đói khát của người dân.
KẾT LUẬN:
Cái mà các quốc gia đã từng đi theo gọi là XHCN và lý thuyết Chủ nghĩa Cộng sản, thực chất là một chiếc bánh vẽ thơm tho. Những điều mà hệ thống đó nâng lên làm “lý tưởng” đã trở thành những mục tiêu hư ảo và cả hệ thống đã nhắm mắt để đi đến đó bằng sự lừa bịp và bạo lực.
Hệ thống đó đã thấm những đớn đau mà nó mang lại. Những quốc gia sớm vứt bỏ đã trở thành những quốc gia giàu mạnh và hội nhập sâu vào văn minh, tiến bộ.
Một số quốc gia, dù vẫn tồn tại cái gọi là CNXH trên môi miệng, nhưng thực chất thì đã đi ngược con đường đó, lập nên chế độ tư bản thân hữu, tư bản đỏ từ lâu. Cái gọi là CNXH chỉ còn là lá bùa để lừa bịp dân chúng ngu muội bị che mắt không nhìn thấy tầng lớp tư bản đỏ.
Khốn nạn thay, đau đớn thay cho những quốc gia vẫn cứ mù quáng tập thể và cố tình bịt mắt trước thực tế thế giới, chỉ nhằm bảo vệ một thể chế chính trị độc tài mà họ không tin tưởng là có thể tồn tại được khi người dân no cái bụng và khỏi bị mờ mắt để nhìn nhận ra đâu mới là con đường sống.
Nguồn: Tiếng Dân
