
Tác giả: Charles Paine
Mỗi khi người Mỹ hồi tưởng về Chiến tranh Việt Nam, ký tự tập thể của họ thường dội ngay về những thước phim hoảng loạn vào tháng Tư năm 1975. Chúng ta bị ám ảnh bởi tiếng cánh quạt trực thăng phành phạch trên nóc Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Ta thấy những bàn tay tuyệt vọng cào xé cánh cổng sắt, cảnh đốt tài liệu vội vã, và nhịp thở dồn dập của một đế quốc đang cuống cuồng tháo chạy.
Những hình ảnh này có sức mạnh vô cùng to lớn, được khắc sâu vào tảng đá hoa cương của lịch sử hiện đại. Nhưng chúng cũng gây hiểu lầm một cách sâu sắc. Chúng đánh lừa ta tin rằng bi kịch của người Việt chỉ bắt đầu ở hồi kết trong câu chuyện của nước Mỹ. Chúng thu hút ánh nhìn của chúng ta vào cơ chế điên cuồng của cuộc tháo chạy, làm ta mù lòa trước những toan tính thâm độc đã khởi động cỗ máy này ngay từ thuở ban đầu.
Để thực sự thấu hiểu vết thương rỉ máu của cộng đồng người Việt hải ngoại, một vết thương nhất quyết không chịu lên da non suốt nửa thế kỷ qua, chúng ta không thể bắt đầu từ năm 1975. Chúng ta phải nhìn xa hơn thời điểm những gót giày viễn chinh Mỹ bước đến vào năm 1965. Chúng ta phải đi ngược dòng thời gian về năm 1954, nhìn vào một quốc gia bị chia cắt, sự đứt lìa của những cội rễ ngàn năm, và một chiến dịch khổng lồ được gắn cái mác mỹ miều là Chiến dịch Hành trình đến Tự do.
Công cuộc nhào nặn một nền dân chủ vỏ bọc
Năm 1954, Hiệp định Geneva tựa như một nhát cắt tùy tiện xẻ đôi đất nước tại vĩ tuyến mười bảy. Washington khi ấy vô cùng khao khát một bức tường thành vững chắc chống lại làn sóng cộng sản tại miền Nam Việt Nam vừa mới thành hình. Nhưng có một trở ngại lớn: chính quyền Ngô Đình Diệm khi ấy lại non yếu một cách nguy hiểm. Miền Nam chưa phải là một quốc gia gắn kết; đó chỉ là một mớ chắp vá lộn xộn của các phe phái tôn giáo và quyền lực địa phương, trong đó không ít nhóm vẫn nuôi cảm tình sâu đậm với Việt Minh.
Một quốc gia cần được xây dựng lại từ nền móng, và nó đòi hỏi một sự trung thành tuyệt đối. Chiến dịch Hành trình đến Tự do đã trở thành bệ phóng cho nền Cộng Hòa được đặt hàng này, một nhà máy nhà nước được sản xuất theo đúng khuôn mẫu và lợi ích của phương Tây. Dưới sức mạnh hậu cần của Hải quân Mỹ và bàn tay dàn xếp tâm lý của tình báo Mỹ, khoảng một triệu người Việt miền Bắc đã di cư vào Nam. Trên truyền thông, cuộc xê dịch này được ngợi ca như một sứ mệnh giải cứu nhân đạo vĩ đại. Với những gia đình đang vội vã gói ghém chút tư trang ít ỏi, nỗi sợ hãi về một chính thể mới ở miền Bắc là hiện thực hiển hiện.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn cuộc di cư này qua lăng kính nhân đạo, ta đã mắc bẫy tuyên truyền và phớt lờ một toan tính chiến lược đen tối hơn rất nhiều. Hàng trăm ngàn con người ấy đang bị tái sử dụng một cách có hệ thống. Họ không đơn thuần là những người tị nạn mất nhà cửa. Họ chính là chất kết dính cốt lõi để nhào nặn nên một quốc gia nhân tạo.
Đối với các kiến trúc sư chính trị ở Washington và Sài Gòn, dòng người ồ ạt này mang lại một món hời nhân khẩu học được tính toán kỹ lưỡng và có tác dụng tức thì. Chiến dịch này mang về khoảng một triệu lá phiếu cử tri đảm bảo để hợp thức hóa chính quyền mỏng manh của Ngô Đình Diệm. Nó cung cấp một lực lượng lao động khổng lồ, bị mắc kẹt, buộc phải xây dựng cơ sở hạ tầng cho một quốc gia hoàn toàn mới, cùng với bộ máy hành chính sống còn để duy trì bộ máy nhà nước.
Hơn thế nữa, cuộc di cư còn cung cấp nguồn tân binh vô tận cho quân đội. Hiểm độc nhất, chiến dịch này đã vũ khí hóa nỗi đau ly hương của con người. Bằng cách bứng những gia đình này khỏi đất đai tổ tiên và biến họ thành những kẻ lưu vong, những kẻ giật dây đã tạo ra một cộng đồng bị thiêu đốt bởi khao khát phục thù miền Bắc. Họ được đào tạo để trở thành những tấm khiên tiền tiêu kiên cường và không khoan nhượng cho một cuộc chiến tranh ủy nhiệm của người Mỹ.
Trong văn hóa Việt, gốc gác và bản sắc gắn chặt với đất đai. Rời bỏ miền Bắc đồng nghĩa với việc bỏ lại mồ mả tổ tiên và cắt đứt cuống rốn gia phả dòng họ. Đó là một sự tàn phá sâu sắc về mặt tâm linh. Những gia đình ấy bị bứt khỏi dòng chảy lịch sử của chính mình và thả xuống một miền Nam xa lạ, đôi khi đầy thù địch. Họ bị buộc phải xây dựng một pháo đài cho chiến lược Chiến tranh Lạnh, thứ được phác thảo bằng tiếng Anh trong những căn phòng máy lạnh cách đó hàng ngàn dặm. Đúng vậy, họ là người tị nạn, nhưng trên hết, họ là những quân cờ trên bàn cờ địa chính trị toàn cầu.
Bộ mặt của một quốc gia phụ thuộc
Trong hai thập niên tiếp theo, những người di cư gốc Bắc và con cái của họ sinh ra tại miền Nam đã trở thành xương sống cho cuộc thử nghiệm vĩ đại này của nước Mỹ. Vì mang ơn chế độ được Mỹ hậu thuẫn đã cưu mang mình, họ gắn chặt số phận vào đó. Họ là những thầy cô giáo, công chức, viên chức địa phương và những người lính bộ binh đang đổ máu cho một chế độ tồn tại leo lắt nhờ ống truyền dịch của Mỹ.
Nhưng việc trở thành bộ mặt đại diện cho nền Cộng hòa này cũng đồng nghĩa với việc họ tự vẽ một vòng tròn hồng tâm lên lưng mình. Với các nhà hoạch định chính sách mải mê tranh luận về Thuyết Domino ở Washington, cuộc xung đột chỉ là một trò chơi ý thức hệ trừu tượng. Nhưng ngay tại chiến trường, đó là một cuộc tương tàn khốc liệt và đẫm máu, nơi lòng trung thành quyết định sự sống hay cái chết.
Khi lính Mỹ ồ ạt đổ bộ vào năm 1965, quy mô của cuộc tàn sát đã vượt mọi sức tưởng tượng. Rồi khi dư luận Mỹ chán ngán cuộc chiến, một chiến lược bóng bẩy mới ra đời: Việt Nam hóa chiến tranh. Đó là một cụm từ đầy tính quan liêu, vô cảm để che đậy cho một sự phản bội tàn nhẫn. Dưới thời Tổng thống Richard Nixon, Hoa Kỳ bắt đầu rút quân, thực chất là ném lại ngôi nhà đang bốc cháy cho chính những người mà họ đã từng ép phải đứng canh gác. Với những người miền Nam gắn chặt sinh mệnh vào bộ máy nhà nước, đây là một bản án tử hình. Họ bị bỏ rơi, bị lịch sự ép phải chiến đấu bảo vệ cho một chủ quyền mà chính kiến trúc sư tạo ra nó đang cuống cuồng tháo chạy.
Sự sụp đổ và biển cả bạc tình
Khi Sài Gòn thất thủ vào tháng Tư năm 1975, đó là sự sụp đổ toàn diện của một thế giới quan và trật tự xã hội. Đối với quân nhân, trí thức và các nhà giáo dục gắn bó với chế độ cũ, sự trừng phạt ập đến chớp nhoáng. Hàng trăm ngàn người bị lùa vào các trại cải tạo, một danh từ nói giảm nói tránh cho những nhà tù khổ sai tàn khốc, nơi cái đói và đòn thù ngự trị.
Từ vực thẳm tuyệt vọng ấy, thảm kịch Thuyền nhân bùng nổ. Không ai tự quăng mình ra biển cả chỉ vì sở thích phiêu lưu. Họ là những mảnh vỡ tuyệt vọng của một thế giới đã tàn lụi. Người ta đánh đổi những chỉ vàng cuối cùng, cược mạng sống của mình với hải tặc, bão tố và đại dương mênh mông. Hàng ngàn người đã vĩnh viễn nằm lại dưới những lớp sóng sâu, không có lấy một nấm mồ. Cuộc tháo chạy ấy là cái giá đẫm máu, trực tiếp từ những vai trò mà họ buộc phải gánh vác trong một hệ thống do Mỹ dựng lên rồi nhẫn tâm vứt bỏ.
Di sản của sự câm lặng
Ngày nay, bước vào những khu người Việt sầm uất ở Quận Cam hay Houston, người ta dễ dàng nhìn thấy bức tranh của sự thành công rực rỡ. Nơi đó có những khu chợ nhộn nhịp, các cơ sở kinh doanh thịnh vượng, và nghị lực phi thường của một cộng đồng đã tự vực dậy từ đống tro tàn. Câu chuyện ấy là thật, nhưng nó chỉ là bề nổi. Ẩn sau lớp vỏ bọc hào nhoáng của huyền thoại nhóm thiểu số kiểu mẫu là một sự câm lặng đến nghẹt thở.
Với thế hệ tị nạn đầu tiên, sống sót đồng nghĩa với việc phải chôn chặt những tổn thương vào bóng tối. Họ làm gì có thời gian để gặm nhấm nỗi đau “mất nước”. Trước mắt họ là chén cơm manh áo, là việc phải học một ngôn ngữ xa lạ để mưu sinh nơi xứ người. Sự câm lặng trở thành chiếc phao sinh tồn duy nhất.
Nhưng im lặng không làm quá khứ biến mất; nó chỉ chuyển giao những bóng ma ám ảnh sang thế hệ sau. Những người trẻ lớn lên giữa sự giằng xé: vừa phải hòa nhập vào văn hóa Mỹ, vừa oằn mình gánh vác sức nặng từ những hy sinh không cất thành lời của cha mẹ. Họ thừa kế nỗi đau về một quê hương đã mất, nhưng lại bị cắt đứt hoàn toàn khỏi bối cảnh lịch sử để thấu hiểu nỗi đau ấy.
Sự đứt gãy này càng thêm trầm trọng bởi hệ thống giáo dục Mỹ. Trong trường học, Chiến tranh Việt Nam luôn được giảng dạy qua góc nhìn vị kỷ, lấy nước Mỹ làm trung tâm. Nó được mổ xẻ như một sai lầm chính trị của Mỹ, hay sự đánh mất đi sự ngây thơ của nước Mỹ. Lịch sử máu lệ của người dân miền Nam bị đẩy xuống làm những dòng chú thích nhỏ nhoi. Sự xóa sổ này khiến giới trẻ hải ngoại như những cánh bèo trôi dạt. Ngồi trong lớp học, họ cay đắng nhận ra sách giáo khoa không hề dành ra một dòng nào cho những tủi nhục của ông nội, hay lòng quả cảm của mẹ mình.
Chung một nỗi đau dân tộc
Trong khi sách giáo khoa Mỹ phân loại cộng đồng hải ngoại gọn lỏn như một tổn thất ngoài dự kiến của một ván cờ địa chính trị thất bại, thì một hiện thực trầm lặng và sâu sắc lại đang diễn ra ở bên kia bờ Thái Bình Dương. Với đa số người dân Việt Nam trong nước hiện nay, nỗi đau chiến tranh không phải là một khái niệm chính trị xa vời. Họ thấu hiểu đến tận tâm can nỗi đau ly hương tột cùng của một triệu đồng bào bị bứt khỏi quê cha đất tổ bởi sự hỗn mang của thế kỷ hai mươi.
Vượt lên trên những ranh giới tuyên truyền cứng nhắc về kẻ thắng người thua, đồng bào trong nước ngày nay nhìn về cộng đồng hải ngoại với một sự thấu cảm sâu sắc và xót xa. Họ hoàn toàn công nhận những người phải ly hương này là một phần máu thịt chịu nhiều tổn thương nhất của dân tộc, những người đã oằn lưng gánh chịu những bi kịch nặng nề nhất của một cuộc chiến bị thao túng. Có một sự thấu hiểu vô ngôn nhưng cắm rễ rất sâu trong lòng người Việt: cộng đồng thiểu số đầy thương tích này cần thêm thời gian, thậm chí là của nhiều thế hệ, để xoa dịu và vượt qua những vết sẹo hậu chiến. Đó là một nỗi đau chung, phơi bày sự vô nghĩa và tàn nhẫn của những đường ranh giới nhân tạo do các siêu cường Chiến tranh Lạnh vạch ra.
Định hình lại trách nhiệm
Khi nước Mỹ cuối cùng cũng mở cửa đón nhận các làn sóng tị nạn Việt Nam, họ đã tự vỗ ngực tự hào. Điều đó được tô vẽ như một hành động hào hiệp vĩ đại của nước Mỹ, một minh chứng sáng ngời cho tinh thần nhân đạo của thế giới tự do. Có lẽ câu chuyện tự mãn đó cũng có một phần nhỏ sự thật. Nhưng đứng ở độ lùi lịch sử nửa thế kỷ để nhìn lại, chúng ta phải có can đảm đặt ra một câu hỏi nhức nhối hơn rất nhiều.
Nếu một siêu cường tạo ra những điều kiện địa chính trị buộc hàng triệu người phải bứng rễ, đòi hỏi sự trung thành tuyệt đối của họ để duy trì một nhà nước nhân tạo, rồi cuối cùng vứt bỏ họ cho một số phận bi thảm, thì việc cưu mang những người sống sót không phải là một hành động từ thiện. Nó không phải là lòng nhân từ. Nó là khoản trả góp tối thiểu cho một món nợ đạo lý khổng lồ.
Hậu quả của Chiến tranh Việt Nam không khép lại khi gót giày viễn chinh Mỹ cuối cùng rời khỏi đường băng. Nó vẫn đang dội tiếng vọng qua sự câm lặng của các gia đình tị nạn và những cuộc vật lộn thầm kín của cộng đồng hải ngoại ngày nay. Để thực sự hiểu được di sản của cuộc chiến này, chúng ta phải thôi dán mắt vào những chiến lược quân sự hay những sai lầm chính trị của Washington. Cuối cùng, chúng ta phải nhìn thẳng vào những con người bị ép phải gánh chịu mọi hậu quả. Chỉ khi đó, ta mới thấy được tận cùng nỗi đau của những gì đã mất, và những gì vẫn còn đang rỉ máu.
Charles Paine là bút danh của một nhà giáo đã nghỉ hưu hiện đang sinh sống tại bang Massachusetts. Ông từng có nhiều năm cống hiến trong lĩnh vực nghiên cứu giáo dục và đào tạo giáo viên tại Hoa Kỳ. Trải qua thời gian dài sinh sống và làm việc tại nhiều vùng miền trên đất Mỹ, ông luôn ấp ủ mong mỏi được đóng góp tiếng nói của mình nhằm giúp thế hệ trẻ người Việt, cả ở trong nước lẫn hải ngoại, thấu hiểu sâu sắc hơn về những bi kịch và hy sinh mà thế hệ đi trước đã phải gánh chịu trong chiến tranh. Qua những trang viết của mình, ông hy vọng có thể góp phần hàn gắn lịch sử và kéo những tâm hồn Việt xích lại gần nhau hơn.
