Xoay trục Châu Á-Thái Bình Dương là một ‘chính sách xác sống’

Nguồn: Robert A. Manning, “The Asia-Pacific Pivot Is a Zombie Policy,” Foreign Policy, 26/03/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Một ý tưởng từng được ca ngợi rầm rộ giờ đây có lẽ đã cận kề cái chết.

Năm 2011, chính quyền Obama bất ngờ công bố chiến lược xoay trục sang Châu Á, tuyên bố Mỹ sẽ tái tập trung vào khu vực Châu Á-Thái Bình Dương để đối phó với Trung Quốc đang trỗi dậy. Các chính quyền kế nhiệm ít nhất cũng đã hứa suông với ý tưởng rằng Châu Á-Thái Bình Dương là khu vực chiến lược quan trọng nhất đối với Mỹ – cho đến khi Trump đắc cử nhiệm kỳ thứ hai và chuyển hướng sang Tây Bán Cầu.

Ý tưởng này liệu còn chút sức sống nào không? Zack Cooper, một chuyên gia dày dạn kinh nghiệm về Châu Á tại Viện Doanh nghiệp Mỹ, tuyên bố nó đã chết, lập luận một cách đầy sức thuyết phục trên tạp chí Foreign Affairs rằng sự xoay trục đã thất bại. Việc Mỹ di dời các tài sản quân sự ở Châu Á-Thái Bình Dương – mà nổi bật nhất là việc rút các hệ thống phòng thủ tên lửa THAAD và Patriot khỏi Hàn Quốc, cũng như điều động 5000 lính Thủy quân Lục chiến từ Nhật Bản đến Vịnh Ba Tư khi chiến tranh Iran leo thang – đã tự nói lên tất cả.

Kể từ khi Mỹ trở thành cường quốc toàn cầu thống trị sau Thế chiến II, luôn tồn tại một sự căng thẳng triền miên giữa việc thúc đẩy các ưu tiên đã tuyên bố và việc phản ứng trước lực hút của dòng sự kiện trong lúc Washington tìm cách theo đuổi các mệnh lệnh duy trì vị thế bá chủ toàn cầu.

Thực tế chính sách đối ngoại của Mỹ thời hậu Chiến tranh Lạnh từ chính quyền này sang chính quyền khác đều thường có vẻ mang tính phản ứng, giống một trò chơi đập chuột vô tận hơn là một chiến lược. Cứ nhìn vào việc Tổng thống Donald Trump bị cuốn sâu hơn vào Trung Đông, ngay cả khi Chiến lược An ninh Quốc gia của ông tuyên bố: “Những ngày mà Trung Đông chi phối chính sách đối ngoại của Mỹ trong cả kế hoạch dài hạn và thực thi hàng ngày may mắn thay đã kết thúc.”

Tuy nhiên, nhìn bề ngoài, sự hiện diện an ninh và chính sách của Mỹ ở Châu Á-Thái Bình Dương dường như vẫn có một mức độ liên tục đáng kể. Cả cựu Tổng thống Joe Biden và đương kim Tổng thống Trump đều củng cố các liên minh chủ chốt Mỹ-Nhật, Mỹ-Hàn, cùng nhiều liên minh khác (dù chúng đang phải đối mặt với những bất ổn mới dưới chính quyền Trump thứ hai), đồng thời mở rộng và tái phân bổ sự hiện diện quân sự trên khắp Thái Bình Dương để đối trọng với Trung Quốc. Trump cũng duy trì sáng kiến hợp tác công nghiệp quốc phòng AUKUS.

Những hy vọng về “hòa bình thông qua sức mạnh” và “răn đe bằng việc chống xâm nhập theo chuỗi đảo thứ nhất,” như lời Thứ trưởng Quốc phòng phụ trách Chính sách Elbridge Colby, cùng với nhịp độ của các cuộc tập trận chung, lập kế hoạch, và tham vấn là những điều đang diễn ra như lẽ đương nhiên.

Tương tự, bất chấp các mức thuế quan của Trump, thương mại và đầu tư của Mỹ ở Châu Á vẫn rất mạnh nếu xét về giá trị tuyệt đối – hơn 1,5 nghìn tỷ USD thương mại hai chiều vào năm 2025, với khoảng 1,1 nghìn tỷ USD tổng vốn đầu tư trực tiếp vào năm 2024. Trong lúc Châu Á đang tăng trưởng nhanh hơn, thì xét về mặt tương đối, tỷ trọng đầu tư của Mỹ đang giảm dần, nhưng chúng vẫn là những con số khổng lồ.

Nhưng không hiểu sao toàn bộ quá trình này lại có vẻ sáo rỗng. Ý tưởng về một khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ đã chết, nhưng nó vẫn tiếp tục bước đi, giống như một xác sống. Tại sao vậy? Không phải là mạng lưới liên minh và các quan hệ an ninh sắp tan rã. Sự nổi lên của Trung Quốc, sức ì của hệ thống hành chính, và sự thiếu vắng các giải pháp thay thế cho chiếc ô an ninh của Mỹ vẫn giữ nước này hiện diện ở châu Á. Tương lai có thể sẽ diễn ra đúng như cách Hemingway mô tả việc phá sản trong cuốn Mặt Trời vẫn mọc “Có hai cách. Dần dần, rồi đột ngột.”

Đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu chuyển hướng khi các đồng minh và đối tác của Mỹ tìm kiếm các cơ chế đối phó để phản ứng lại sự rút lui và thất thường của Mỹ. Nhật Bản có lẽ là đồng minh thân cận nhất của Mỹ; liên minh với Washington đã là nền tảng trong chính sách đối ngoại của họ kể từ khi kết thúc thời kỳ chiếm đóng sau Thế chiến II. Vì vậy, khi cố vấn an ninh quốc gia của chính quyền Tokyo tiền nhiệm, Masataka Okano, trích dẫn một loạt các hành động của Trump, từ thuế quan và Venezuela cho đến Greenland, và viết về sự bàng hoàng trước việc Mỹ tự tay phá vỡ trật tự do chính mình xây dựng, đồng thời kêu gọi Tokyo “phát triển một chiến lược mới,” thì chúng ta cần phải chú ý.

Chia sẻ quan điểm với bài phát biểu tại Davos của Thủ tướng Canada Mark Carney, Okano viết rằng việc thích ứng với thế giới mà Trump tạo ra “đòi hỏi Nhật Bản và các quốc gia khác phải nhìn xa hơn nước Mỹ để giải quyết những mối bận tâm chung.”

Ông không hề đơn độc. Trong các cuộc trò chuyện gần đây với giới chức và chuyên gia Châu Á ở cả trong và ngoài chính phủ, tôi đã rất ngạc nhiên trước cảm giác vỡ mộng và lo âu của họ về định hướng của Mỹ – ngay cả khi họ vẫn đón nhận các đảm bảo an ninh của Mỹ. Chun Yungwoo, một nhà chiến lược xuất chúng và là cựu cố vấn an ninh quốc gia của Hàn Quốc, nói rằng min hf thực sự lo ngại về những gì thiếu vắng trong Chiến lược An ninh Quốc gia và Chiến lược Quốc phòng của Mỹ. Không có “sự tái khẳng định nào về cam kết răn đe mở rộng,” và chiến lược quốc phòng “gây ấn tượng rằng họ ưu tiên Chuỗi đảo Thứ Nhất … hơn là bảo vệ các đồng minh hiệp ước như Hàn Quốc và Nhật Bản.”

Điểm khác biệt đó – sử dụng ngôn từ bảo vệ chuỗi đảo thứ nhất thay vì nói thẳng là bảo vệ các đồng minh – tiết lộ một chính sách Châu Á của Mỹ bắt nguồn từ, và được nhìn qua lăng kính của, Trung Quốc. Con đường của Trump hướng tới một “nền hòa bình tử tế” (decent peace) với Trung Quốc làm dấy lên quan ngại trong khu vực về một “G2” thành công mà ông đã từng khoe khoang, dù sự đối đầu của Mỹ với Trung Quốc còn gây ra nhiều nỗi sợ hơn.

Logic dân tộc chủ nghĩa đang trỗi dậy có thể được thấy rõ qua cách hành xử của các đồng minh của Mỹ. Một ví dụ là việc tăng cường quân sự, mạng lưới quốc phòng, và vai trò khu vực ngày càng tăng của Nhật Bản. Một mặt, điều này đáp ứng những yêu cầu của Mỹ về việc chia sẻ gánh nặng, theo đó giúp củng cố liên minh. Mặt khác, có một yếu tố dân tộc chủ nghĩa độc lập đang dần hiện rõ trong việc đạt được năng lực tấn công tầm xa, lập trường cứng rắn về Đài Loan, những lời đồn đoán về vũ khí hạt nhân, và sự quyết đoán trong khu vực của Tokyo.

Định hướng phòng bị nước đôi và những thảo luận râm ran về “quyền tự chủ chiến lược” tương tự cũng xuất hiện trong hồ sơ chiến lược ngày càng độc lập của Hàn Quốc. Khi được Mỹ yêu cầu chịu “trách nhiệm chính” đối với nền quốc phòng của riêng họ, Seoul đã quyết định tăng cường sức mạnh quân sự, sự ủng hộ của công chúng đối với vũ khí hạt nhân cũng tăng lên. Họ còn tìm cách tái xử lý vật liệu hạt nhân để chế tạo tàu ngầm hạt nhân và đa dạng hóa các quan hệ toàn cầu của mình. Xu hướng giảm thiểu rủi ro từ cả Mỹ và Trung Quốc có thể được nhận thấy trên khắp Châu Á.

Nhưng đó không phải là những dấu hiệu duy nhất cho thấy đây là một chính sách xác sống. Quay trở lại Washington, đang tồn tại một chủ nghĩa giao dịch “Nước Mỹ trên hết” rõ rệt, cùng chủ trương quản trị kinh tế mang tính ép buộc và trục lợi, được thể hiện qua các mức thuế quan thay đổi chóng mặt đối với các đồng minh và đối tác (thậm chí là những nước như Australia và Singapore, mà Mỹ có thặng dư thương mại), và các thỏa thuận thương mại phiến diện nhằm nhấn mạnh tình trạng “chư hầu” của họ.

Các cường quốc tầm trung vội vã chuyển sang các biện pháp phòng bị nước đôi và cân bằng, được nêu bật qua bài phát biểu mang tính bước ngoặt của Carney tại Davos. Phần lớn sự chuyển hướng này xoay quanh thương mại, có thể đo lường được qua tốc độ hướng tới các thỏa thuận thương mại khu vực và tiểu đa phương nhằm bảo vệ thương mại dựa trên luật lệ, trái ngược với cách tiếp cận thất thường và mang tính trục lợi của Trump.

Tám năm qua, Châu Á-Thái Bình Dương đã chứng kiến sự phát triển của các hiệp định thương mại lớn nhất (và chồng chéo nhau) là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) gồm 15 thành viên và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) – cả hai đều không có sự tham gia của Mỹ. RCEP bao gồm các đồng minh và đối tác của Mỹ, cũng như Trung Quốc, đối tác thương mại lớn nhất của các đồng minh và đối tác của Mỹ ở Đông Á, tập trung làm sâu sắc thêm các quan hệ kinh tế và công nghệ với Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). CPTPP – do Nhật Bản lãnh đạo sau khi Mỹ rời đi – thì đang ngày càng mở rộng, bổ sung thêm Anh, trong khi Indonesia và một số nước khác đang nộp đơn xin gia nhập. Kế đó là hiệp định thương mại EU-Ấn Độ gần đây, và các cuộc đàm phán để liên kết EU với CPTPP. Danh sách này vẫn còn tiếp tục.

Cùng lúc đó, mạng lưới hợp tác quốc phòng nội khối Châu Á cũng trở nên dày đặc hơn. Đúng là nhiều khuôn khổ trong số đó như AUKUS và liên minh Mỹ-Nhật Bản-Australia-Philippines có bao gồm Mỹ, nhưng ngày càng có nhiều nhóm riêng biệt, chẳng hạn như Nhật Bản-Ấn Độ, Ấn Độ-Việt Nam, Canada-Philippines-ASEAN, và tam giác hàng hải Indonesia-Philippines-Việt Nam minh họa cho các mô hình đang phát triển, dù chưa rõ chúng có thể mang lại hậu quả gì cho cấu trúc an ninh Châu Á-Thái Bình Dương trong tương lai khi so sánh với các đội hình thương mại.

Các chính sách của Trump là hệ quả tất yếu của khoảng cách giữa lời hứa và thực tế trong các chính sách của Mỹ đối với khu vực này. Chúng chưa bao giờ đáp ứng được kỳ vọng, một phần là do lực hút từ các lợi ích trên toàn cầu của Mỹ. Nhưng phần không kém quan trọng là do sự năng động của Trung Quốc và sự trỗi dậy của Châu Á như một trung tâm hàng đầu về kinh tế và năng lực quân sự đã vượt quá tốc độ thích ứng của Mỹ.

Thất bại của cựu Tổng thống Barack Obama trong việc phản ứng với hành vi chiếm đoạt Bãi cạn Scarborough (một đảo nhỏ đang tranh chấp ở Biển Đông) của Trung Quốc được nhiều người xem là một khoảnh khắc định hình. Các cơ sở quân sự sau này của Trung Quốc trên các vùng lãnh thổ tranh chấp khác ở Biển Đông và các hành động vùng xám khác diễn ra sau đó phần lớn đều không bị Mỹ thách thức – ngay cả sau khi Tòa án Công lý Quốc tế phán quyết rằng các yêu sách của Trung Quốc là bất hợp pháp vào năm 2016.

Đồng thời, Obama cũng không thể hoàn tất Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), một hiệp định thương mại lớn mà ông từng mô tả là tâm điểm trong chiến lược xoay trục sang Châu Á của mình. TPP lẽ ra đã quyết định – như ông từng lập luận – ai sẽ “viết ra luật chơi cho thương mại.” Nhưng cả ứng viên tổng thống của Đảng Dân chủ Hillary Clinton lẫn Trump đều vận động chống lại TPP trong cuộc bầu cử năm 2016, và kể từ đó mọi thứ đều tụt dốc.

Mỹ vẫn chưa thiết lập được một trụ cột kinh tế cạnh tranh trong cái đã trở thành một chính sách Châu Á-Thái Bình Dương ngày càng phiến diện, lấy quân sự làm trung tâm, như Evan Feigenbaum và tôi đã lập luận hồi năm 2012. Việc rút lui khỏi vai trò quản lý hệ thống thương mại toàn cầu và vị thế của một tác nhân thống trị đa chiều trong lúc thành tích thương mại và đầu tư của Trung Quốc ở Châu Á ngày càng bùng nổ là một sai lầm đắt giá.

Xác sống không chết một cách tự nhiên, nhưng chúng có thể bị tiêu diệt. Đã xuất hiện một mô hình thay đổi trong bản chất của các thỏa thuận kinh tế và an ninh – sự rạn nứt dần dần của các gân cốt và các mối liên kết – giữa Mỹ và các đồng minh cùng đối tác. Trong một tương lai có thể dự đoán được, sự thay đổi có thể diễn ra từ từ và tăng dần. Nhưng thế giới đang bước vào một giai đoạn chuyển tiếp với nhiều bất ổn hơn bất kỳ thời kỳ nào kể từ sau Thế chiến II. Hàng loạt sự kiện – một cuộc chiến ở Đài Loan, việc Hàn Quốc và Nhật Bản sở hữu vũ khí hạt nhân, một cuộc khủng hoảng chính phủ ở Trung Quốc hoặc Mỹ, một sự sụp đổ tài chính toàn cầu – có thể khiến xác sống này yên nghỉ hoàn toàn.

Dù có Trump hay không, các xu hướng cấu trúc đang thúc đẩy quỹ đạo địa chính trị hiện tại nhiều khả năng vẫn sẽ tiếp diễn: cạnh tranh Mỹ-Trung, chủ nghĩa dân tộc về kinh tế/công nghệ, và phần còn lại của Châu Á (cũng như các cường quốc tầm trung nói chung) đang cố gắng tạo ra các cơ chế đối phó để tối đa hóa quyền tự chủ trước cả hai siêu cường. Căng thẳng cũng sẽ tiếp tục tồn tại do một nghịch lý: khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đang hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng (bao gồm cả Trung Quốc), nhưng vẫn hy vọng Mỹ duy trì vai trò bảo đảm an ninh của mình, ngay cả khi Mỹ đang rũ bỏ bớt các trách nhiệm và hàng hóa công.

Và như việc mượn các tài sản quân sự tối tân của Mỹ từ Đông Á để phục vụ cho Chiến tranh Vùng Vịnh 3.0 đã minh họa, một tổng thống Mỹ nữa đang để sức mạnh bị dàn trải quá mức; dù tuyên bố Châu Á là ưu tiên, nhưng ông lại đang bị lôi kéo sâu hơn vào một Trung Đông đầy bất ổn. Khi không còn tiếng súng, hậu quả của cuộc chiến sẽ là một khu vực hỗn loạn với hai quốc gia bị tàn phá và kiệt quệ là Iran và Lebanon, một mớ hỗn độn chưa được giải quyết do Mỹ dẫn dắt ở Gaza, và những căng thẳng dai dẳng giữa Iran, các nước láng giềng Vùng Vịnh và Israel. Rất khó để thấy Mỹ có thể rút chân khỏi khu vực này trong phần còn lại của nhiệm kỳ của Trump và có thể còn lâu hơn nữa, theo đó làm cạn kiệt các nguồn lực và kéo sự tập trung khỏi chính sách Châu Á của Mỹ.

Trong thời gian chờ đợi, thói tự mãn của Mỹ và những ý tưởng bốc đồng của Trump sẽ tiếp tục làm tiêu tan lòng tin, và một thế giới đang tái được thiết lập sẽ tiếp tục thúc đẩy quá trình chuyển đổi hiện tại, dù chậm chạp nhưng chắc chắn.

Robert A. Manning là nghiên cứu viên tại Viện Tầm nhìn Chiến lược thuộc Trung tâm Stimson, nơi ông làm việc với các chương trình tầm nhìn toàn cầu và các chương trình Trung Quốc.

Related posts