Lê Văn Duyệt và một cuộc tranh luận chưa thể nào kết thúc

Vũ Hoàng Linh

20-9-2026

Lê Văn Duyệt là một trong những nhân vật khó đánh giá nhất của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ 19. Khi mất năm 1832, ông vẫn là một khai quốc công thần, nguyên Chưởng Tả quân và Tổng trấn Gia Định Thành, người từng được cả Gia Long lẫn Minh Mệnh giao những trọng trách lớn. Chỉ ba năm sau, triều đình Minh Mệnh truy xét và luận ông vào bảy tội đáng chém, hai tội đáng thắt cổ và một tội đáng sung quân; chức tước bị truy đoạt, mộ bị san phẳng và dựng bia kết tội. Sang các đời vua sau, bản án ấy từng bước được giảm nhẹ rồi đảo ngược. Đến thời Tự Đức, chức tước của Lê Văn Duyệt được phục hồi. Gần hai thế kỷ sau, Lăng Ông Bà Chiểu, khu lăng mộ rộng hơn 18.000 m² ở Thành phố Hồ Chí Minh, trở thành là một không gian tín ngưỡng quan trọng; tượng đồng Lê Văn Duyệt được dựng tại đây năm 2008, và năm 2020 thành phố khôi phục tên đường Lê Văn Duyệt cạnh khu lăng.

Một nhân vật đã chết gần hai trăm năm nhưng vẫn tiếp tục gây tranh luận rõ ràng không chỉ còn thuộc về quá khứ. Tuy nhiên, trước khi hỏi tại sao người Việt hôm nay vẫn tranh cãi về Lê Văn Duyệt, có lẽ nên trở lại câu hỏi cơ bản hơn: ông là ai trong nhà nước Nguyễn đầu thế kỷ 19, và vì sao một công thần từng được trao quyền rất lớn lại trở thành đối tượng của một vụ án nặng nề sau khi chết?

Tôi không nghĩ có nhiều ý nghĩa nếu chúng ta tìm cách cộng trừ “công” và “tội” để tìm một kết luận cuối cùng về Lê Văn Duyệt. Một người có thể có công lớn trong việc ổn định một vùng đất nhưng vẫn tham gia những vụ án chính trị đáng phê phán. Một viên quan có thể xử nghiêm một số trường hợp tham nhũng nhưng lại bảo vệ thuộc hạ thân tín làm nhiều điều trái lẽ. Và một người có thể bị triều đình đối xử bất công sau khi chết nhưng điều đó không làm cho mọi hành động trước đó của ông trở thành chính đáng. Với Lê Văn Duyệt, điều đáng tìm hiểu hơn là cách ông tạo dựng và sử dụng quyền lực, rồi vì sao chính thứ quyền lực từng rất hữu ích dưới Gia Long lại ngày càng trở nên khó chấp nhận dưới Minh Mệnh. Chân dung Lê Văn Duyệt, có lẽ là đa dạng và đa chiều hơn chỉ một góc nhìn “công” hay “tội”. Và nó còn phụ thuộc nhiều vào điểm nhìn, người nhìn, và rất có thể – cả những ẩn ức hay mong muốn thầm kín của người đưa ra ý kiến.

1. Từ võ tướng của Nguyễn Ánh đến Tổng trấn Gia Định

Lê Văn Duyệt sinh khoảng năm 1763 hoặc 1764 và theo Nguyễn Ánh từ khá sớm. Ông không đi lên bằng khoa cử mà trưởng thành trong chiến tranh. Trong giai đoạn quyết định của cuộc chiến Nguyễn – Tây Sơn, đặc biệt ở các chiến dịch Thị Nại và Phú Xuân năm 1801, Lê Văn Duyệt nằm trong nhóm tướng lĩnh quan trọng nhất của Nguyễn Ánh. Khi Gia Long lên ngôi năm 1802, địa vị của ông vì thế không đơn thuần dựa trên sự sủng ái của nhà vua mà trước hết dựa trên công trạng quân sự.

Điều này rất quan trọng để hiểu cấu trúc quyền lực đầu triều Nguyễn. Gia Long thống nhất đất nước sau nhiều thập niên nội chiến, trong khi khả năng kiểm soát trực tiếp từ kinh đô còn hạn chế. Nhà vua phải dựa vào những công thần có uy tín quân sự, kinh nghiệm điều hành và mạng lưới nhân sự riêng. Bắc Thành và Gia Định Thành vì vậy được tổ chức như những đơn vị hành chính rất lớn, do Tổng trấn nắm quyền rộng hơn nhiều so với một viên tỉnh trưởng sau này.

Gia Định Thành, được tổ chức lại từ năm 1808, quản một vùng rộng lớn ở phía Nam. Lê Văn Duyệt hai lần giữ chức Tổng trấn, lần thứ hai từ năm 1820 đến khi mất năm 1832. Khi giao lại Gia Định cho ông, Minh Mệnh vẫn trao quyền khá rộng trong việc thăng giáng quan lại, xử lý công việc biên giới và giải quyết những việc cấp thiết của địa phương. Điều đó cho thấy quan hệ giữa hai người không thể giản lược thành một mối thù có sẵn từ đầu.

Gia Định khi ấy cũng là một không gian rất khác Huế. Đây là vùng đất của di dân, khai khẩn và thương mại, với người Việt, người Hoa, người Khmer cùng nhiều nhóm dân cư khác; phía tây liên hệ trực tiếp với Chân Lạp và Xiêm, trong khi các thương nhân và giáo sĩ phương Tây xuất hiện thường xuyên hơn so với nhiều vùng khác. Một chính quyền ở Gia Định vì thế cần khả năng xử lý linh hoạt hơn một bộ máy chỉ vận hành theo mệnh lệnh từ kinh đô.

Đáng nói hơn, Gia Định bước vào thế kỷ 19 với một ký ức chiến tranh đặc biệt nặng nề. Trong cuộc tiến quân vào Gia Định năm 1782, sau khi tướng Phạm Ngạn bị lực lượng Hòa Nghĩa giết, quân Tây Sơn tiến hành một cuộc trả đũa lớn nhằm vào cộng đồng người Hoa. Các nguồn không thống nhất về số người thiệt mạng, với những ước tính từ vài nghìn đến hàng vạn người, nhưng đều cho thấy đây là một biến cố rất lớn đối với xã hội Gia Định. Nhà cửa và cơ sở buôn bán bị tàn phá, trong khi thành phố còn nhiều lần đổi chủ trong những năm sau đó. Vì thế, ký ức của cư dân Nam Bộ về chiến tranh Tây Sơn không nhất thiết giống với hình ảnh Quang Trung trong ký ức quốc gia về sau. Điều này không tự động chứng minh Nguyễn Ánh hay các tướng của ông được dân chúng ủng hộ rộng rãi, nhưng nó giúp giải thích tại sao nhà Nguyễn có thể xây dựng được một cơ sở xã hội đáng kể ở phương Nam sau nhiều năm chiến tranh.

Các ghi chép của phái bộ Anh do John Crawfurd dẫn đầu năm 1822 cho thấy Sài Gòn – Bến Nghé khi ấy đã là một trung tâm đô thị và thương mại đáng kể. Crawfurd ước tính toàn Việt Nam có khoảng 40.000 người Hoa và hơn một phần mười số đó sống tại Sài Gòn. Đây chỉ là ước lượng của một nhà ngoại giao nước ngoài, không phải điều tra dân số, nhưng nó phần nào cho thấy vị trí của Gia Định trong mạng lưới thương mại của vương quốc.

Cũng không nên từ những ghi chép ấy để coi Lê Văn Duyệt thành người tạo ra sự thịnh vượng của Sài Gòn. Thương mại ở vùng này đã hình thành từ trước và phụ thuộc vào nhiều lực lượng kinh tế khác nhau. Tuy nhiên, một chính quyền duy trì được an ninh, dung nạp các cộng đồng thương mại và không gây xung đột không cần thiết với họ có thể tạo ra môi trường thuận lợi cho kinh tế. Ở khía cạnh đó, thời kỳ Lê Văn Duyệt cai quản Gia Định đáng được đánh giá tích cực. Nhất là, ông làm được điều đấy sau một cuộc nội chiến khốc liệt giữa hai phe Tây Sơn – Nguyễn Ánh khiến Gia Định trở thành một vùng đất hoang tàn.

2. Phong cách cai trị thực dụng của một Tổng trấn phương xa

Nếu phải tìm một đặc điểm xuyên suốt trong cách Lê Văn Duyệt cai trị phương Nam, tôi cho rằng đó là tính thực dụng hơn là một học thuyết chính trị nhất quán. Ông sẵn sàng thu dụng người có năng lực, kể cả những người có quá khứ phức tạp; tương đối mềm dẻo với các cộng đồng thương mại và tôn giáo; đồng thời sử dụng rất mạnh quyền lực quân sự và hành chính khi thấy cần thiết.

Khả năng huy động nguồn lực của chính quyền Gia Định dưới thời Lê Văn Duyệt rất lớn. Kênh Vĩnh Tế được khởi công năm 1819 do Nguyễn Văn Thoại là người chỉ huy thi công nhưng chủ yếu được thực hiên dưới thời Lê Vặn Duyệt làm Tổng trấn (1820-1832). Kế hoạch đào tiếp kênh Vĩnh Tế năm 1822 dự kiến huy động hơn ba mươi chín ngàn binh dân từ các đơn vị thuộc Gia Định cùng hơn mười sáu ngàn binh dân Chân Lạp, chia thành nhiều đợt thi công. Cần lưu ý đây là số dự kiến chứ không phải số người thực tế cùng làm một lúc. Dù vậy, quy mô đó vẫn cho thấy năng lực tổ chức của chính quyền miền Nam đầu thế kỷ 19.

Kênh Vĩnh Tế về lâu dài có ý nghĩa lớn đối với giao thông, khai khẩn và quốc phòng ở vùng biên giới Tây Nam. Nhưng nếu chỉ nhìn công trình từ kết quả cuối cùng, ta dễ bỏ qua chi phí rất lớn mà hàng vạn dân phu Việt và Khmer phải chịu. Đây là giới hạn của nhiều câu chuyện “khai phá phương Nam”: một công trình có thể tạo ra lợi ích kinh tế lâu dài nhưng được xây dựng bằng một cơ chế lao dịch rất khắc nghiệt.

Một sự việc khác cho thấy rõ phong cách của ông là vụ cứu đói Chân Lạp năm 1827. Khi Chân Lạp thiếu lương thực, Lê Văn Duyệt tự xuất 15.000 phương gạo để cứu tế rồi mới báo về kinh. Minh Mệnh không bác bỏ việc cứu đói, nhưng nhắc rằng những vấn đề liên quan đến nước ngoài thuộc thẩm quyền triều đình và không nên tự tiện quyết định. Nhà vua đồng thời thừa nhận rằng trong trường hợp Lê Văn Duyệt, một số việc “quyền nghi thông biến” có thể chấp nhận được.

Quan hệ giữa Lê Văn Duyệt với Chân Lạp cũng nằm trong bối cảnh đó. Gia Định không chỉ quản lý một vùng lãnh thổ trong nước mà còn là đầu mối thực thi chính sách của nhà Nguyễn đối với Chân Lạp và theo dõi cạnh tranh với Xiêm. Các phái bộ nước ngoài đôi khi tiếp xúc trực tiếp với Gia Định trước khi tới Huế. Một số hoạt động mà sau này Minh Mệnh xem là dấu hiệu vượt quyền vì thế từng có lý do thực tế trong chính cơ chế quản trị vùng biên.

3. Quan hệ với Công giáo và người phương Tây

Thái độ của Lê Văn Duyệt đối với Công giáo là một chủ đề thường bị kéo về hai cực. Một phía biến ông thành biểu tượng của khoan dung tôn giáo; phía khác xem quan hệ của ông với giáo sĩ và người Pháp như dấu hiệu của sự lệ thuộc vào Pháp. Cả hai cách nhìn đó đều khó đứng vững nếu đặt đúng vào niên đại.

Lê Văn Duyệt mất năm 1832. Pháp nổ súng ở Đà Nẵng năm 1858, tức 26 năm sau, và phải tới thập niên 1860 mới bắt đầu thiết lập chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ. Những người Pháp hiện diện tại Việt Nam thời Gia Long và Minh Mệnh gồm giáo sĩ, thương nhân và một số sĩ quan từng phục vụ Nguyễn Ánh. Quan hệ với những người này không thể tự động đồng nhất với lòng trung thành đối với nhà nước Pháp của thời kỳ thuộc địa.

Điều có thể nói với độ chắc chắn cao hơn là Lê Văn Duyệt có thái độ mềm hơn Minh Mệnh đối với Công giáo. Điều đó phù hợp với cách ông cai trị Gia Định. Trong một xã hội đa dân cư và dựa mạnh vào thương mại, gây xung đột với một cộng đồng tôn giáo chưa tạo ra nguy cơ chính trị rõ ràng không đem lại nhiều lợi ích cho chính quyền địa phương.

Có thể gọi đó là “sự khoan dung thực dụng” có lẽ chính xác hơn cả việc tôn Lê Văn Duyệt thành người đi trước thời đại lẫn việc gán ông với việc thân Pháp. Ông không phải một người ủng hộ tự do tôn giáo theo nghĩa hiện đại. Ông chỉ có cách cân nhắc lợi ích chính trị và xã hội khác với Minh Mệnh.

4. Quan hệ với hai vua và vấn đề của một công thần quá mạnh

Quan hệ giữa Lê Văn Duyệt và Minh Mệnh thường được kể theo mô hình khá đơn giản và thực ra là nhầm lẫn: Lê Văn Duyệt ủng hộ dòng Hoàng tử Cảnh, phản đối Phúc Đảm; Phúc Đảm lên ngôi thành Minh Mệnh nên ghi thù, nhưng vì Lê Văn Duyệt còn quá mạnh nên phải đợi ông chết mới trả thù.

Sử liệu không phù hợp với cách kể này. Có dấu hiệu cho thấy Lê Văn Duyệt ban đầu từng thiên về phương án kế vị từ dòng Hoàng tử Cảnh. Nhưng đến cuối đời Gia Long, ông lại là một trong các đại thần tích cực ủng hộ chuyển giao quyền lực cho Phúc Đảm. Sau khi lên ngôi, Minh Mệnh không loại bỏ Lê Văn Duyệt mà tiếp tục giao cho ông cai quản Gia Định trong suốt mười hai năm. Năm 1828, Minh Mệnh còn nhận xét Lê Văn Duyệt tuy có tiếng là cứng đầu nhưng là người “trung thuận”. Điều đó không có nghĩa giữa hai người không có mâu thuẫn. Từ cuối thập niên 1820, Minh Mệnh ngày càng tìm cách kiểm soát chặt Gia Định, đặc biệt qua việc điều động nhân sự và hạn chế quyền tự quyết của Tổng trấn. Các mâu thuẫn giữa vị hoàng đế có tham vọng tập quyền và vị “phó vương” nhiều công trạng cứ tích tụ dần, lúc thắt, lúc mở, lúc đấu tranh công khai, lúc âm thầm.

Sự khác biệt ở đây trong cách đối xử của Gia Long và Minh Mệnh với Lê Văn Duyệt là do các mục tiêu khác nhau của hai vị hoàng đế này. Nhà nước Gia Long ra đời sau gần ba thập niên nội chiến, trong điều kiện quyền lực trung ương còn chưa đủ mạnh để trực tiếp quản lý toàn bộ lãnh thổ. Vì vậy, Gia Long phải dựa nhiều vào các khai quốc công thần như Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành hay Lê Chất, giao cho họ quyền khá rộng để cai quản những vùng lớn ở Bắc Thành và Gia Định Thành. Mô hình này có ưu điểm là tận dụng được uy tín, kinh nghiệm quân sự và mạng lưới nhân sự của các công thần, nhưng cũng khiến quyền lực nhà nước ở địa phương gắn khá chặt với từng cá nhân. Đến thời Minh Mệnh, khi triều Nguyễn đã ổn định hơn, nhà vua từng bước thay mô hình đó bằng một hệ thống hành chính tập trung hơn, trong đó các tỉnh và quan lại địa phương chịu sự bổ nhiệm, giám sát và điều động trực tiếp từ triều đình Huế. Việc bãi bỏ Bắc Thành năm 1831 và Gia Định Thành năm 1832 vì thế không chỉ nhằm vào một vài công thần cụ thể, mà là hai bước quan trọng trong quá trình xóa bỏ các trung tâm quyền lực khu vực và thống nhất bộ máy hành chính trên phạm vi cả nước.

Trong mô hình của Gia Long, một người như Lê Văn Duyệt là tài sản. Trong mô hình Minh Mệnh đang xây dựng, chính quyền lực của Lê Văn Duyệt lại trở thành một vấn đề.

5. Những vết gợn trong đời làm quan của Lê Văn Duyệt

Điều đó không có nghĩa nên biến Lê Văn Duyệt thành nạn nhân của một quá trình tập quyền. Một số hành động của ông vẫn cần được đánh giá riêng.

Vụ Nguyễn Văn Thành là một trường hợp như vậy. Nguyễn Văn Thành cũng là khai quốc công thần và từng làm Tổng trấn Bắc Thành. Vụ án bắt đầu từ bài thơ của con ông là Nguyễn Văn Thuyên, bị tố có ý phản nghịch. Lê Văn Duyệt có tham gia đưa vụ việc lên triều đình và sau đó tham gia thẩm vấn. Nguyễn Văn Thành cuối cùng tự sát năm 1817.

Có thể nói Lê Văn Duyệt “vu chết” Nguyễn Văn Thành hay không? Tôi nghĩ chưa nên dùng từ ấy như một kết luận chắc chắn. Muốn gọi là vu cáo, cần chứng minh Lê Văn Duyệt biết cáo buộc là giả nhưng vẫn cố tình dựng án. Sử liệu hiện có chưa đủ cho kết luận mạnh như vậy. Tuy nhiên, việc Lê Văn Duyệt trực tiếp tham gia một vụ án chính trị khiến một đồng liêu lớn bị đẩy tới cái chết là điều không thể gạt sang bên.

Vụ Tống Thị Quyên năm 1824 còn khó coi hơn nữa. Theo sử triều Nguyễn, Lê Văn Duyệt mật tâu việc Mỹ Đường, con Hoàng tử Cảnh, có quan hệ loạn luân với mẹ là Tống Thị Quyên. Sau đó Tống Thị Quyên bị giao cho Lê Văn Duyệt xử lý và bị dìm chết; Mỹ Đường bị giáng xuống làm thứ dân.

Sẽ không có ai biết rằng án này có cơ sở gì không nhưng Lê Văn Duyệt có một vai trò không thể phủ nhận trong vụ việc và hình phạt đã được thi hành với một hình phạt man rợ. Vụ việc này cũng có một hệ quả chính trị rõ ràng: dòng Hoàng tử Cảnh tiếp tục suy yếu, không thể trở thành một đối trọng quyền lực với Minh Mệnh. Nó cũng cho thấy con người của Lê Văn Duyệt là không dễ đoán định: một kẻ từng ủng hộ dòng Hoàng tử Cảnh thì nay đang tâm dìm chết vợ, bỏ tù con trai Hoàng tử để củng cố quyền lực cho Minh Mệnh.

Ngay cả việc Lê Văn Duyệt chống tham nhũng quyết liệt như các câu chuyện kể về ông cũng cần được nhìn theo cách tương tự. Vụ Huỳnh Công Lý thường được sử dụng để chứng minh sự cương trực của Lê Văn Duyệt. Huỳnh Công Lý, Phó Tổng trấn Gia Định và là (một trong rất nhiều các) bố vợ của Minh Mệnh, bị phát hiện tham nhũng với tang vật được sử ghi trên 20.000 quan. Lê Văn Duyệt cho điều tra và tâu về triều; sau đó Minh Mệnh phê chuẩn việc xử tử. Câu chuyện dân gian “Lê Văn Duyệt chém cha vợ vua” vì thế không chính xác. Lê Văn Duyệt có công phát hiện và theo đuổi vụ án, nhưng quyết định cuối cùng thuộc về nhà vua.

Trong khi đó, vụ Trần Nhật Vĩnh lại cho thấy Lê Văn Duyệt không phải lúc nào cũng giữ khoảng cách với thuộc hạ. Trần Nhật Vĩnh là người được ông  tin dùng và bị tố nhũng lạm, thậm chí “sát phu, đoạt phụ”. Lê Văn Duyệt có lúc bảo vệ người này, trong khi Minh Mệnh tìm cách đưa Trần Nhật Vĩnh khỏi Gia Định để điều tra. Ngoài ra còn có các cáo buộc vì việc ông dung túng cho thuộc hạ như Lê Văn Khôi buôn lậu…

Hai vụ việc đặt cạnh nhau đem lại một hình ảnh hợp lý hơn. Không có bằng chứng rõ rằng Lê Văn Duyệt trực tiếp tham ô; ông cũng có thể rất nghiêm với quan lại phạm tội. Nhưng cách quản trị của ông dựa nhiều vào lòng tin cá nhân. Chính điều đó khiến một số người thân tín được bảo vệ quá mức.

6. Lê Văn Khôi và sự biến thành Phiên An

Một nét đáng chú ý trong cách Lê Văn Duyệt xây dựng lực lượng ở Gia Định là việc thu dụng những người vốn ở bên lề trật tự nhà nước. Sau chuyến kinh lược Thanh – Nghệ năm 1819, ông đưa vào quân ngũ hơn 900 người từng tham gia các toán nổi dậy hoặc ra hàng, tổ chức thành các cơ Thanh Thuận và An Thuận; về sau Gia Định còn có các đội Bắc Thuận và Hồi Lương, trong đó nhiều người là dân lưu tán, tù phát vãng hoặc người bị sung quân. Lê Văn Khôi cũng xuất thân từ chính môi trường này: từng thuộc lực lượng chống triều đình ở miền Bắc, sau được Lê Văn Duyệt thu phục, xin tha và đưa vào hệ thống quân sự Gia Định. Cách dùng người ấy có logic của một vùng biên: biến những nhóm khó kiểm soát thành binh lính và nhân lực cho nhà nước. Nhưng nó cũng khiến một bộ phận quân nhân gắn con đường sống và thăng tiến khá chặt với sự bảo trợ của Lê Văn Duyệt.

Sau khi Lê Văn Duyệt mất năm 1832, Gia Định Thành bị giải thể và mạng lưới thuộc hạ cũ bị điều tra, phân tán. Tháng 5/1833, Lê Văn Khôi nổi dậy. Cuộc nổi dậy lan rất nhanh và trong một thời gian ngắn kiểm soát phần lớn các thành trì ở Nam Bộ trước khi bị thu hẹp về thành Phiên An. Cuộc chiến kéo dài tới năm 1835 mới chấm dứt được. Cái kết rất thảm khốc: sau khi thành Phiên An bị hạ, tất cả các phiến quân và người nhà của họ, bất kể nam nữ, già trẻ, tổng cộng hơn 1800 người, đều bị chém chết và vất thây lấp đất. Người đời sau gọi đó bằng cái tên “Mả Ngụy” – hố chôn tập thể lớn nhất Sài Gòn.

Có thể quy cuộc nổi dậy cho Lê Văn Duyệt không? Không có bằng chứng cho thấy ông chuẩn bị hoặc chủ trương phản loạn. Ông đã chết trước khi sự biến xảy ra. Nhưng khó phủ nhận rằng mạng lưới nhân sự hình thành dưới thời ông cung cấp phần lớn nguồn lực cho Lê Văn Khôi. Đó là mặt trái của một hệ thống quyền lực dựa nhiều vào quan hệ cá nhân.

Theo tôi, đây cũng là điểm công bằng nhất để đánh giá trách nhiệm của Lê Văn Duyệt. Không nên biến trách nhiệm thể chế thành tội phản nghịch (như điều Minh Mệnh đã làm), nhưng cũng không nên phủ nhận hệ quả của cách tổ chức quyền lực mà ông đã để lại.

7. Bản án năm 1835

Sau khi cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi bị dẹp, triều đình truy xét Lê Văn Duyệt. Bản án năm 1835 quy ông vào bảy tội đáng chém, hai tội đáng thắt cổ và một tội đáng sung quân. Các cáo buộc liên quan tới việc giao thiệp với bên ngoài, can thiệp nhân sự, tự ý điều quân, sử dụng giấy tờ có đóng ấn và những hành vi được xem là vượt thẩm quyền.

Không phải tất cả những việc ấy đều hoàn toàn bịa đặt. Lê Văn Duyệt quả thực có quyền lực rất lớn, có quan hệ trực tiếp với các phái bộ bên ngoài và nhiều lần xử lý công việc trước khi xin phép. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ một số hành vi từng được Minh Mệnh chấp nhận khi Lê Văn Duyệt còn sống lại được diễn giải khác sau cuộc nổi dậy.

Nói bản án hoàn toàn là trả thù cá nhân vì thế quá đơn giản. Nhưng nói đó chỉ là việc áp dụng pháp luật khách quan cũng khó thuyết phục.

Hợp lý hơn là xem bản án năm 1835 như kết quả của nhiều yếu tố cùng lúc: những sai phạm hoặc hành vi vượt thẩm quyền có thật, các mâu thuẫn cá nhân cũng là có thật, cuộc cải cách tập quyền của Minh Mệnh và sự xung đột với quyền tự trị của Gia Định mà Lê Văn Duyệt dày công xây dựng, và đặc biệt là cú sốc chính trị do cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi gây ra. Sau khi một mạng lưới từng gắn với Lê Văn Duyệt nổi loạn, những hành vi cũ của ông dễ dàng bị đọc lại như dấu hiệu của một nguy cơ mà trước đó triều đình đã xem nhẹ.

Việc các đời vua sau từng bước phục hồi Lê Văn Duyệt dưới thời Tự Đức (người có mẹ là người Nam Bộ) cũng cho thấy chính nhà Nguyễn không duy trì mãi phán quyết của Minh Mệnh. Nó cho thấy cách đánh giá công và tội thay đổi khi hoàn cảnh chính trị thay đổi.

8. Vì sao Nam Bộ vẫn nhớ Lê Văn Duyệt?

Nếu chỉ đọc hồ sơ của triều đình, sẽ khó giải thích vì sao ký ức về Lê Văn Duyệt ở Nam Bộ lại bền như vậy.

Lăng Ông Bà Chiểu không chỉ là một khu mộ mà đã trở thành một thiết chế tín ngưỡng. Trong ký ức của người dân địa phương, quan Tổng trấn Lê Văn Duyệt thường gắn với trật tự, thương mại, việc xử lý quan lại tham nhũng và một thời kỳ xứ Gia Định đa sắc tộc có mức tự chủ tương đối lớn, phồn vinh về kinh tế và tương đối hài hòa về các mặt quan hệ sắc tộc, tôn giáo, văn hóa. Người Nam Bộ, nhất là người Sài Gòn – Gia Định cũng hiếm khi gọi tên thật của ông, mà thường gọi ông bằng những danh xưng như “Tả Quân”, “Đức Ông”…

Tín ngưỡng dân gian không thể thay thế sử học. Việc một người được thờ không chứng minh ông vô tội trong từng vụ án. Nhưng ký ức cộng đồng cũng không phải thứ có thể bỏ qua. Nó cho biết dân chúng lựa chọn nhớ điều gì về một thời kỳ cai trị.

Nói cách khác, triều đình ở Huế nhìn Lê Văn Duyệt qua những câu hỏi về thẩm quyền: ai được bổ nhiệm quan, ai được điều quân, ai được giao thiệp với nước ngoài. Người dân Gia Định có thể quan tâm đến những việc gần đời sống hơn: an ninh có được giữ không, thương mại có thuận lợi không, quan lại địa phương có bị kiềm chế không, các cộng đồng khác nhau có thể chung sống hay không.

Có lẽ chính ở đây tôi thấy nhân vật Lê Văn Duyệt thú vị nhất. Một người có thể trở thành vấn đề đối với nhà nước trung ương nhưng lại để lại ký ức rất tích cực tại địa phương. Điều ấy không chứng minh bên nào là đúng đắn mà nó chỉ cho thấy lịch sử có thể được nhìn nhận và trải nghiệm từ những vị trí khác nhau.

9. Vì sao lại có các tranh cãi về Lê Văn Duyệt hiện nay?

Việc Lê Văn Duyệt được nhắc đến nhiều trở lại không phải một hiện tượng đột ngột. Tượng đồng của ông được dựng tại Lăng Ông năm 2008. Năm 2020, Thành phố Hồ Chí Minh khôi phục tên đường Lê Văn Duyệt. Những năm gần đây tiếp tục có các hội thảo, sách, bài nghiên cứu và tác phẩm sân khấu về ông.

Quá trình này diễn ra đồng thời với một sự thay đổi rộng hơn trong cách nhìn nhà Nguyễn. Trong phần lớn thế kỷ 20, câu chuyện cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 thường được cấu trúc quanh vai trò tích cực của Tây Sơn, đặc biệt là Quang Trung, trong khi Nguyễn Ánh thường được nhìn trước hết qua việc cầu viện bên ngoài và tiêu diệt Tây Sơn. Từ cuối thế kỷ 20, các nghiên cứu về hành chính, kinh tế, Nam Bộ, ngoại giao và quá trình xây dựng nhà nước Nguyễn làm bức tranh trở nên phức tạp hơn.

Sự thay đổi ấy tất nhiên gây phản ứng. Một số người lo ngại rằng việc “đánh giá lại” có thể biến thành đảo ngược những phán xét cũ một cách thiếu căn cứ. Nỗi lo này không hoàn toàn vô lý. Sử học không tiến bộ bằng cách đổi dấu cộng thành dấu trừ. Một câu chuyện cũ thiên lệch không được sửa bằng một câu chuyện mới thiên lệch theo hướng ngược lại.

Tranh luận về “lật sử” vì thế cần trở về một tiêu chuẩn đơn giản hơn: một cách giải thích mới có dựa trên chứng cứ tốt hơn và lập luận chặt chẽ hơn hay không. Sửa lại một nhận định cũ không phải tự nó là “lật sử”; ngược lại, việc nhân danh “đánh giá lại” cũng không cho phép người viết bỏ qua nguồn bất lợi hoặc suy diễn quá xa từ một vài dữ kiện. Sử học vốn luôn thay đổi khi xuất hiện tư liệu mới, câu hỏi mới hoặc cách đọc thuyết phục hơn. Điều quan trọng không phải là một kết luận mới hay cũ, mà là nó được chứng minh đến đâu.

Trường hợp Lê Văn Duyệt cho thấy rất rõ yêu cầu đó. Việc ông từng chiến đấu chống Tây Sơn là một sự kiện, nhưng không thể từ đó suy ra thời kỳ ông cai trị Gia Định là đáng phê phán. Quan hệ tương đối tốt của ông với Công giáo và một số người phương Tây cũng không đủ để gọi ông là người “trung thành với Pháp”. Tương tự, việc một số thuộc hạ cũ tham gia cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi không chứng minh rằng chính Lê Văn Duyệt đã chuẩn bị phản loạn.

Nhưng cùng một chuẩn mực ấy cũng phải áp dụng cho những người muốn phục hồi hình ảnh của ông: việc ông xử nghiêm Huỳnh Công Lý không có nghĩa bộ máy Gia Định hoàn toàn trong sạch; việc được người Nam Bộ thờ phụng không phải bằng chứng rằng mọi cáo buộc đối với ông đều sai; và việc Minh Mạng truy án sau khi ông chết cũng không làm mất đi trách nhiệm của Lê Văn Duyệt trong những vụ việc như Nguyễn Văn Thành hay Tống Thị Quyên. Nói cách khác, vấn đề không phải chọn một phía để  tin, mà là giữ cho mỗi kết luận không đi xa hơn những gì chứng cứ cho phép.

Nhưng có lẽ tranh luận hiện nay trở nên gay gắt vì Lê Văn Duyệt nằm đúng ở giao điểm của nhiều câu chuyện nhạy cảm: Nguyễn Ánh và Tây Sơn, Huế và Gia Định, trung ương và địa phương, Công giáo và Nho giáo, Việt Nam và Chân Lạp, ký ức quốc gia và ký ức về miền Nam. Người ta tưởng đang tranh luận về một Tổng trấn đã mất năm 1832, nhưng thực ra lại là đang tranh luận về cách chúng ta muốn kể lịch sử Việt Nam hôm nay.

10. Nhìn lại Lê Văn Duyệt

Nếu phải đưa ra một đánh giá dè dặt, tôi nghĩ có bốn điểm tương đối rõ.

Lê Văn Duyệt trước hết là một công thần lớn của nhà Nguyễn. Vai trò quân sự của ông trong giai đoạn cuối cuộc chiến với Tây Sơn và vị trí của ông trong bộ máy Gia Long là điều mà tất cả các bên đều không phủ nhận.

Ông cũng là một nhà quản trị Nhà nước rất có năng lực. Cai quản Gia Định trong một thời gian dài, duy trì trật tự ở một vùng biên phức tạp, huy động nguồn lực cho những công trình lớn và giữ quan hệ với nhiều cộng đồng khác nhau, phát triển thương nghiệp và nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng ở địa phương… không phải thành tích nhỏ. Ký ức tích cực mà ông để lại ở Nam Bộ vì thế có các nền tảng lịch sử.

Nhưng Lê Văn Duyệt không phải hình mẫu của một vị đại thần chí công vô tư. Quyền lực của ông phụ thuộc nhiều vào quan hệ cá nhân và các mạng lưới bảo trợ. Các vụ án Nguyễn Văn Thành, Mỹ Đường – Tống Thị Quyên, việc bảo vệ một số thuộc hạ và quan hệ với Lê Văn Khôi cho thấy những giới hạn đó.

Cuối cùng, xung đột giữa Lê Văn Duyệt và Minh Mệnh không nên được thu hẹp thành chuyện tư thù. Đằng sau nó là sự thay đổi của một mô hình quản trị quốc gia. Nếu như Gia Long cần những công thần đủ mạnh có thể tự mình cai trị những vùng đất lớn ở một đất nước vừa trải qua chiến tranh và chưa kịp xây dựng các thể chế ổn định thì Minh Mệnh muốn một hệ thống trong đó không một đại thần nào còn có quyền lực như vậy, và một chính quyền tập trung nhất, chống lại mọi xu hướng phân cực hay tự trị vùng miền.

Nghịch lý của Lê Văn Duyệt nằm ở chỗ chính những phẩm chất khiến ông trở nên hữu dụng dưới Gia Long lại khiến ông trở nên khó phù hợp với nhà nước Minh Mệnh. Ông là sản phẩm thành công của một mô hình chính trị đang đi đến hồi kết.

Tôi không đặc biệt ngưỡng mộ Lê Văn Duyệt. Có những việc ông làm mà nếu đọc từ sử liệu hiện còn, tôi thấy khó có thể biện hộ. Nhưng càng đọc về ông, tôi càng thấy việc yêu hay ghét một nhân vật lịch sử ít quan trọng hơn việc hiểu tại sao người đó có thể hành động như vậy trong hoàn cảnh của mình. Cũng như vậy, tôi không nghĩ cần hạ thấp Quang Trung để nhìn nhận lại Gia Long, hay phải biến Lê Văn Duyệt thành một vị quan hoàn hảo để thừa nhận rằng những cách đánh giá ông trước đây có nhiều chỗ cần xem xét lại.

Một nền sử học trưởng thành có lẽ không cần quá nhiều anh hùng hoàn hảo hay phản diện tuyệt đối – những thứ thật ra chủ yếu là sản phẩm của sự “viết lại” và tuyên truyền. Nó cần những con người thật hơn, với năng lực, lợi ích, giới hạn và những lựa chọn đôi khi mâu thuẫn của họ.

Mà như thế, nó cũng thú vị, gần gũi và đáng đọc hơn.

Nguồn: Tiếng Dân

Related posts