TS Nguyễn Văn Tuấn

Địa điểm là quán “Cafe de Dinh”, và người hỏi chuyện là kí giả Thẩm Hồng Thuỵ của báo Một Thế Giới. Hôm đó hình như là giữa tháng 8.
Thật ra, cho đến lúc tới nơi, tôi nghĩ là một buổi cà phê cà pháo thôi. Nhưng hoá ra là một buổi phỏng vấn. Có nghĩa là tôi không có chuẩn bị trước. Không biết câu hỏi là gì. Mà, vậy lại hay vì buổi trò chuyện rất tự nhiên.
Bây giờ thì tôi mới biết đây là loạt bài phỏng vấn nằm trong loạt bài về những người “ra đi và trở về”. Tôi không nghĩ mình nằm trong diện/nhóm này, vì tôi chưa trở về theo nghĩa trở về luôn. Nhưng thôi thì cứ nói chuyện về hành trình 25 năm qua, âu cũng là dịp để ôn lại chuyện vui buồn.
Bài phỏng vấn:
https://1thegioi.vn/gs-nguyen-van-tuan-toi-lam-bat-cu…
Nếu có một cái gì tôi xem là một di sản và mong muốn bà con nhớ tới sau khi nghỉ hưu, thì đó là dự án “Vietnam Osteoporosis Study” (VOS). Bây giờ, 10 năm sau nhìn lại, tôi nghĩ nó giống như là một cuộc mạo hiểm. Làm sao tuyển hơn 4000 người và theo dõi suốt 10 năm trong khi kinh phí rất hạn hẹp.
Nếu không có sự giúp đỡ của bà con tình nguyện viên, của cả đội nghiên cứu gồm hơn 30 bác sĩ và sinh viên, của người đồng chủ trì BS Thục Lan, thì dự án không thể thành hiện thực.
Nhìn lại danh sách trên dưới 70 bài báo từ VOS chúng tôi thấy hài lòng. Nhưng bài báo chỉ là chuyện nhỏ; chuyện lớn hơn là tạo ra những dữ liệu và giá trị tham chiếu cho người Việt, là khám phá gen mới, là nâng cao sự hiện diện của y học Việt Nam trên trường quốc tế.
Thật ra, trước VOS chúng tôi đã làm nghiên cứu về ăn chay và loãng xương. Cái dự án này tuy nhỏ (vài trăm người) nhưng cũng cho ra 5 bài báo. Có bài được xem là ‘kinh điển’ trong ngành, được trích dẫn nhiều lần. Cho tới này những bài này vẫn được trích dẫn.
Trước đó là những chương trình đào tạo, mà nghĩ lại tôi cũng thấy như chuyện … không thể. Hàng trăm chương trình tập huấn dài 3-14 ngày trải dài 25 năm. Anh em chúng tôi (Nguyễn Đình Nguyên, Trần Sơn Thạch, Hà Tấn Đức, Trần Quý Phi) đã đi khắp nước Việt Nam. Hơn 20 ngàn học viên đã theo học.
Phải ghi nhận công lao của chị GS Thy Khuê ở đây vì chị ấy là người đã “đem” tôi về Việt Nam từ hơn 20 năm trước. Một người khác cũng cần phải cảm ơn là TS Nguyễn Hoàng Dũng (Dũng, where are you?) ở Đại học Bách khoa vì em ấy tổ chức khoá học phân tích dữ liệu đầu tiên ở đó chắc lâu lắm rồi.
Ở Việt Nam thời đó, học viên được trả tiền để đi học. Họ được cử đi học do các chuyên gia quốc tế (như của WHO chẳng hạn) giảng, và học viên được trả tiền hàng ngày. Nhưng Đại học Tôn Đức Thắng thay đổi văn hoá đó. ĐHTĐT mở khoá học mà trong đó học viên đóng tiền (dù chỉ tượng trưng so với nước ngoài) để đi học. Và ĐHTĐT đã thu hút hàng ngàn học viên như thế. Đó là một bước ngoặt rất quan trọng trong văn hoá khoa học vậy.
Tôi cũng xin nói thêm rằng tất cả các khoá học và huấn luyện đó, tôi không có tư cách pháp nhân để tổ chức vì người ta coi tôi là “yếu tố nước ngoài”. Chỉ cơ sở trong nước mới tổ chức được và họ cũng phải vất vả lắm (xin phép ba bốn nơi), và họ quyết định học phí, còn chúng tôi chỉ đơn giản là “thợ giảng” mà thôi.
Rồi những cuốn sách. Xuất phát từ khó khăn cá nhân, tôi không muốn thế hệ sau khó khăn như tôi, nên tôi viết sách chỉ cho họ từ A đến Z những việc mà sách Việt Nam còn thiếu. Bắt đầu là những cuốn sách về phương pháp nghiên cứu, tới sách về phân tích dữ liệu, công bố khoa học, y học thực chứng, loãng xương. Nói tới đây tôi phải đề cập đến một người để cảm ơn: Nhà báo Nguyễn Vạn Phú. Anh ấy thời đó làm cho Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn đã biên tập giúp và “mai mối” tôi với nhà xuất bản Tổng Hợp mà tôi gắn bó cho đến ngày hôm nay.
Nhưng trước đó thì tôi đã viết sách rồi. Bắt đầu từ vài chục bài báo viết về chất màu da cam và dioxin vào giữa thập niên 1990 (mà sau này in thành sách), tôi trở thành một cộng tác viên lâu năm của Tuổi Trẻ. Rồi sau này viết cho Người Lao Động, Người Viễn Xứ (đã đình bản), Vietnamnet, Vnexpress, v.v. Sau này tôi tổng kết thành một cuốn sách về dioxin đầu tiên ở Việt Nam. Cuốn đó sau này được dịch sang tiếng Anh và tiếng Pháp. Thỉnh thoảng tôi quên cuốn sách đầu tay này, nhưng một hôm vào thăm viện bảo tàng tôi thấy nó nằm ở đó!
Nhưng chuyện hướng dẫn nghiên cứu sinh mới là vui. Tôi nhớ hoài khi một em muốn tôi làm hướng dẫn nghiên cứu sinh, và theo thủ tục (hơp lí) thì tôi phải có gì đó gắn bó với trường. Vậy là em ấy đề nghị tôi làm ‘giáo sư thỉnh giảng’ (visiting professor). Thế nhưng trường không chịu vì tôi không có chứng chỉ tiếng Anh. Ấy vậy mà tôi đã hướng dẫn cho 6 em rồi. Còn hướng dẫn kiểu gián tiếp và không có trong giấy tờ chánh thức thì nhiều hơn nhiều.
Nhiều khi nhìn lại những gì đã làm ở Việt Nam, tôi cứ tưởng như mình… chưa bao giờ thật sự rời Việt Nam.
——
Tôi bảo con AI nó tóm tắt bằng thơ, nó viết như sau:
“Hai lăm năm thoắt một chiêm bao,
Ngoảnh lại đường xa, bóng nguyệt vào.
Đất khách bao mùa trang sách mở,
Quê nhà muôn dặm tiếng lòng trao.
Phấn trắng còn vương đời viễn xứ,
Mực son vẫn nặng bóng quê nhà,
Tưởng đã xa quê từ thuở ấy,
Nào ngờ chưa một bước rời nhau.”
Đọc lên nghe cũng ok đó chớ.
N.V.T.
