Một phán quyết chấn động viết lại các quy tắc về đạo đức doanh nghiệp

Nguồn: M. Gessen, “A Stunning New Verdict Rewrites the Rules of Corporate Morality,” New York Times, 17/04/2026

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Khi thẩm phán đọc phán quyết của bà tại Tòa án Hình sự Paris vào thứ Hai ngày 13/04, các sĩ quan cảnh sát đã bước tới bàn biện hộ để bắt giữ Bruno Lafont, 69 tuổi, cựu giám đốc điều hành của một trong những nhà sản xuất xi măng lớn nhất thế giới, Lafarge, và Christian Herrault, 75 tuổi, cựu phó giám đốc điều hành. Hai người này sẽ bắt đầu chấp hành án tù ngay lập tức: lần lượt là sáu và năm năm, vì tội tài trợ cho chủ nghĩa khủng bố ở Syria và các khu vực khác.

Bản án dành cho hai cá nhân này rất đáng chú ý, nhưng tin tức quan trọng nhất lại là một điều khác: Lần đầu tiên ở Pháp, và có lẽ là lần đầu tiên trên toàn thế giới, một tập đoàn đã bị đưa ra xét xử và bị kết tội hình sự vì tiếp tay cho chủ nghĩa khủng bố. Hai trong số các luật sư dân quyền khởi kiện vụ án này đã không giấu được nụ cười rạng rỡ khi tôi trò chuyện qua video với họ tại tòa án một lúc sau đó. Claire Tixeire, thuộc Trung tâm Hiến pháp và Nhân quyền Châu Âu, người đã trò chuyện với tôi cùng đồng nghiệp Anna Kiefer, thuộc tổ chức nhân quyền Sherpa, cho biết việc chứng kiến một giám đốc điều hành bị kết án tù là “một trường hợp ngoại lệ.” Một điểm đáng nói khác nữa là giọng điệu gay gắt trong bản phán quyết của Thẩm phán Isabelle Prévost-Desprez, cần đến gần bốn giờ đồng hồ để đọc.

Tòa án kết luận rằng từ năm 2013 đến năm 2014, nhà sản xuất xi măng này đã trả khoảng 6,5 triệu đô la cho Nhà nước Hồi giáo và các nhóm khủng bố khác ở Syria, nhằm tạo điều kiện cho các hoạt động của công ty tại đây. Lafarge – hiện thuộc sở hữu của tập đoàn Holcim của Thụy Sĩ – sẽ phải trả khoảng 1,3 triệu đô la tiền phạt vì tội tài trợ cho chủ nghĩa khủng bố và 5,3 triệu đô la vì vi phạm các lệnh trừng phạt quốc tế. Trong một vụ án khác, Lafarge đang phải đối mặt với cáo buộc đồng lõa trong các tội ác chống lại loài người. Nếu vụ án đó được đưa ra xét xử và Lafarge lại bị kết tội, thì một chương mới trong việc truy tố tội ác chiến tranh có thể sẽ mở ra.

Christian Herrault đến tòa vào ngày tuyên án. © Mustafa Yalcin/Anadolu –Getty Images

Trong các vụ truy tố tội ác chiến tranh nổi tiếng nhất – tại Nuremberg, Jerusalem, hoặc La Hay – hầu hết các bị cáo đều là sĩ quan quân đội hoặc thành viên lực lượng bán quân sự. Nhưng tại Nuremberg, những nhà công nghiệp đã hỗ trợ và tiếp tay cho thảm họa diệt chủng Holocaust cũng bị đưa ra xét xử. Những vụ án này phần lớn đều chìm vào quên lãng, một phần vì các bị cáo đã biện hộ thành công rằng họ chỉ làm những gì giới kinh doanh thường làm, đó là cố gắng tối đa hóa lợi nhuận, và rằng họ không hề hay biết mình đang tiếp tay cho những tội ác tàn bạo nào.

Tám mươi năm sau, các giám đốc điều hành của Lafarge cũng cố gắng sử dụng chiến lược biện hộ cơ bản tương tự. Các công tố viên đưa ra nhiều email trao đổi chứng minh cho các thỏa thuận với các tổ chức khủng bố nhằm đảm bảo nhà máy xi măng Lafarge tiếp tục hoạt động ở Syria. Họ trình chiếu hình ảnh một giấy thông hành do các tài xế của Lafarge sử dụng. Tờ giấy hiển thị lá cờ đen của Nhà nước Hồi giáo và dòng chữ “Nhân danh Thánh Allah Nhân từ, yêu cầu các chiến binh thánh chiến (mujahedeen) cho phép phương tiện vận chuyển xi măng từ nhà máy Lafarge này đi qua các trạm kiểm soát, theo một thỏa thuận với công ty về việc buôn bán vật liệu này.” Các cựu nhân viên đã làm chứng rằng trong khi các đồng nghiệp châu Âu của họ được sơ tán đến nơi an toàn, các công nhân Syria bị buộc phải tiếp tục làm việc trong vùng chiến sự, dưới mưa bom, thường xuyên phải đi qua các trạm kiểm soát dưới làn đạn của lính bắn tỉa, và đối mặt với nguy cơ bị bắt cóc. Tất cả diễn ra trong khi chủ lao động của họ đang chi tiền cho các nhóm vũ trang khủng bố dân thường Syria. Cựu giám đốc điều hành vẫn một mực khẳng định ông ta không biết tiền của công ty đang đi về đâu.

Khi các công tố viên đưa ra một email yêu cầu một cuộc họp giữa các giám đốc điều hành Lafarge và các đại diện của nhóm khủng bố, Lafont tuyên bố chưa từng đọc nó. “Tôi không phải là người lớn lên cùng Internet,” ông nói. “Những email mà tôi được gửi kèm [CC], tôi không đọc, còn những email từ những người tôi không quen biết, tôi không mở chúng ra.” (Các luật sư của Lafont cho biết ông đang kháng cáo.)

Hoạt động sản xuất xi măng của Lafarge tại Syria. ©Delil Souleiman/Agence France-Presse – Getty Images

Các tài liệu cho thấy các giám đốc điều hành của Lafarge biết rõ họ đang trả tiền cho các nhóm bị Mỹ và các cơ quan quốc tế liệt vào danh sách các tổ chức khủng bố. Và trong một email được đưa ra làm bằng chứng, Herrault nhận xét: “Bạn không cần phải tìm hiểu sâu xa cũng thấy rằng, trên trường quốc tế, bọn họ là những kẻ khủng bố cộm cán.” Nhưng một luật sư của Bruno Pescheux, cựu giám đốc nhà máy Lafarge ở Syria, lại khẳng định thân chủ của mình thiếu hiểu biết: “Quý tòa nói rằng ai cũng biết ISIS là ai, nhưng tôi xin thưa với ngài: Ông Pescheux không biết!”

Bên cạnh đó, có lúc Herrault biện bạch: “Nếu chúng tôi rời đi, nhà máy sẽ ra sao? Chúng tôi phải lựa chọn giữa hai phương án tồi tệ.”

“Phương án tồi tệ nhất và,” thẩm phán làm rõ, “phương án ít tồi tệ hơn?”

“Chính xác,” Herrault đáp.

Thẩm phán kết luận rằng các bị cáo đã biết việc ở lại Syria sẽ đòi hỏi phải hợp tác với các nhóm khủng bố. Điều đó khiến Lafarge trở thành đồng phạm – không chỉ trong các hành vi tàn bạo xảy ra ở Syria, mà còn trong các vụ tấn công khủng bố do Nhà nước Hồi giáo thực hiện ở Pháp. Một trong những nhân chứng của bên công tố là người sống sót sau các vụ tấn công năm 2015 tại Nhà hát Bataclan ở Paris, vụ việc cùng với các cuộc tấn công phối hợp ở những địa điểm khác đã cướp đi sinh mạng của 130 người và khiến hơn 400 người khác bị thương. Trong phán quyết của mình, Thẩm phán Prévost-Desprez liên tục nhắc lại lời khai của nhân chứng này. “Tôi đang cố gắng làm cho các vị hiểu những lựa chọn được đưa ra trong văn phòng của các vị, cách đó hàng ngàn cây số, đã biến thành đạn Kalashnikov, thành máu như thế nào,” thẩm phán nói.

Số tiền mà Lafarge rót vào hầu bao của các tổ chức chiến binh rất có thể đã tạo ra sự khác biệt lớn về mặt năng lực của chúng. “Tòa án nhấn mạnh rằng, với chi phí sinh hoạt ở Syria trong khoảng thời gian được đề cập, số tiền 5.593.897 euro do Lafarge SA chi trả không có sức mua tương đương ở Raqqa như ở Paris,” Prévost-Desprez viết. “Do đó, bằng cách cố ý trả những khoản tiền cực lớn trong nhiều tháng cho ba tổ chức khủng bố, Lafarge SA đã cho phép chúng mở rộng ảnh hưởng và tiếp thêm nhiên liệu cho các chiến dịch chết chóc của chúng, cuối cùng dẫn đến các cuộc tấn công được thực hiện ở nước ngoài cũng như trên đất Pháp.”

Bruno Pescheux, cựu giám đốc nhà máy Lafarge ở Syria. © Behrouz Mehri/Agence France-Presse – Getty Images

Tôi đã dành những ngày cuối tuần trước khi phán quyết được đưa ra tại Đại học Binghamton ở ngoại ô New York để tham dự một hội nghị thường niên về phòng chống diệt chủng và các hành vi tàn bạo hàng loạt. Tôi tự hỏi tại sao cuộc tụ họp này mang lại cảm giác hy vọng một cách kỳ lạ, đặc biệt là khi xét đến chủ đề cũng như không gian và thời gian sự kiện diễn ra: tại một nước Mỹ nơi những người nhập cư đang phải chịu cảnh sống trong trại tập trung và các cuộc trục xuất hàng loạt – điều mà một số chuyên gia tại hội nghị mô tả là hành vi tàn bạo – vào những ngày cuối tuần ngay sau khi Tổng thống sử dụng mối đe dọa diệt chủng để cố gắng buộc Iran ngồi vào bàn đàm phán. Rồi tôi chợt nhận ra: Những người tham gia – các học giả và người hành nghề luật, triết gia, nhà nhân chủng học, và một lượng lớn đáng buồn các cựu nhân viên Bộ Ngoại giao có các chương trình đã bị Chính quyền Trump cắt bỏ – thực sự tin rằng ít nhất vẫn có một số hành vi tàn bạo có thể được ngăn chặn. Một trong những cơ chế phòng ngừa tiềm năng quan trọng nhất chính là công lý.

Tại hội nghị, tôi gặp Rebecca Hamilton, một luật sư tính tình vui vẻ chuyên về tội ác chiến tranh, hiện là giáo sư luật tại Đại học American ở Washington. Lĩnh vực nghiên cứu của bà là về sự đồng lõa của các doanh nghiệp. Trong một bài viết đánh giá luật năm 2022 có tựa đề “Platform-Enabled Crimes” (Tội ác do nền tảng tiếp tay), bà viết rằng Facebook (hiện là Meta) lẽ ra đã có thể hành động để giúp ngăn chặn cuộc diệt chủng người Rohingya ở Myanmar vào năm 2017, nhưng họ đã chọn không làm vậy. Theo Hamilton, quyết định không hành động bị thúc đẩy bởi cả động cơ lợi nhuận và sự thiếu quan tâm đến bối cảnh địa phương. Hiện tại, Hamilton đang thực hiện một cuốn sách về những tập đoàn tiếp tay cho tội ác. “Đảm bảo lợi nhuận không phải là một khái niệm trừu tượng nào đó đạt được trong những phòng họp sạch tinh tươm ở các thủ đô,” bà viết trong một email gửi cho tôi vào thứ Hai sau phán quyết của Lafarge, kết quả cũng khiến bà rất vui mừng. “Đó là một quá trình diễn ra ở những địa điểm thực tế, với những con người thực tế, bao gồm cả những người đang phải sống trong xung đột.”

Việc truy tố các tập đoàn đặc biệt khó khăn vì ít nhất hai lý do. Một là vấn đề về ý định – yếu tố thiết yếu để xác định tội danh trong một phiên tòa hình sự. Một tập đoàn có khả năng tư duy không? Nó có thể có chủ ý không? Luật sư bào chữa trong phiên tòa xét xử Lafarge cho rằng ý định duy nhất của công ty và các giám đốc điều hành là duy trì hoạt động của nhà máy tại Syria; nhưng thẩm phán kết luận rằng việc các giám đốc điều hành chỉ tập trung duy nhất vào mục tiêu này tự nó đã là một bằng chứng buộc tội, vì nó chỉ có thể đạt được bằng cách hợp tác với các nhóm vũ trang đang khủng bố và cướp bóc Syria.

Tuy nhiên, vấn đề lớn hơn khi truy tố các tập đoàn, theo quan điểm của Hamilton, là sự chênh lệch về nguồn lực. “Những vụ án này phức tạp đến mức khó tin, liên quan đến các công ty con ở nhiều quốc gia khác nhau, được điều chỉnh bởi các luật pháp khác nhau,” bà viết cho tôi. “Chúng mất hàng chục năm. Bị cáo trong những tình huống này là các tập đoàn đa quốc gia, sở hữu nguồn lực về cơ bản là vô hạn để ném vào một vụ kiện. Ở phía bên kia, chúng ta có các cộng đồng nạn nhân và các luật sư làm việc phi lợi nhuận đang thúc giục các công tố viên – những người có thể chưa từng xử lý các tội ác quốc tế – đưa ra các cáo buộc.” Vụ án Lafarge bắt đầu từ một bài báo điều tra trên tờ Le Monde. Các tổ chức xã hội dân sự sau đó đã đệ đơn khiếu nại hình sự và các công tố viên chính phủ chính thức thụ lý. (Vụ án của công ty Dầu mỏ Lundin, mà tôi đã đưa tin từ Stockholm vào tháng 12, cũng đi theo một quỹ đạo giống đến kinh ngạc.) Một yếu tố giúp ích là Bộ Tư pháp Mỹ đã tiến hành một cuộc điều tra riêng, và vào năm 2022, họ kết luận rằng Lafarge đã trả tiền cho các tổ chức khủng bố. Tập đoàn sau đó đồng ý nộp khoản phạt 778 triệu đô la mà không cần xét xử. Thế nhưng, thẩm phán ở Paris vẫn chỉ trích Lafarge và các giám đốc điều hành của tập đoàn này vì đã cố tình kéo dài quá trình tố tụng.

Trong cuộc trò chuyện của chúng tôi sau khi có phán quyết, Claire Tixeire so sánh các giám đốc điều hành bị xét xử giống như những cậu bé trong sân trường “nơi có điều gì đó không ổn xảy ra và mọi người đều nói đó không phải lỗi của mình.” Các công tố viên thì gọi Lafarge là “tàn nhẫn đến mức kinh ngạc.” Thẩm phán ra phán quyết rằng Lafarge và các giám đốc điều hành của nó “phải bị trừng phạt nghiêm khắc, đặc biệt là do sự phủ nhận và thái độ tàn nhẫn của họ.” Khoản tiền phạt mà bà áp đặt là mức tối đa có thể. Bằng cách kết tội cả các giám đốc điều hành và chính pháp nhân tập đoàn, tòa án đã khiến Lafarge khó có thể đổ lỗi cho hành vi sai trái của mình là do một vài cá nhân đơn lẻ, hoặc xem hình phạt tài chính chỉ là chi phí kinh doanh thông thường.

Hồi tháng 10 năm ngoái, một bồi thẩm đoàn liên bang trong một phiên tòa dân sự ở Manhattan đã phán quyết ngân hàng quốc tế BNP Paribas phải chịu trách nhiệm vì tiếp tay cho các hành vi tàn bạo ở Sudan. (Ngân hàng này đang kháng cáo.) Phán quyết của phiên tòa xét xử Lundin ở Thụy Điển dự kiến sẽ được đưa ra trong năm nay. Phiên tòa xét xử thứ hai đối với Lafarge – với cáo buộc đồng lõa trong các tội ác chống lại loài người – có thể sẽ được tiến hành ở Pháp. Và mùa hè năm ngoái, Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hiệp Quốc về các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của Palestine, Francesca Albanese, đã công bố một báo cáo vạch trần vai trò của các tập đoàn trong cuộc diệt chủng ở Gaza với sự rõ ràng chưa từng thấy. (Albanese ngay lập tức phải chịu các lệnh trừng phạt của Mỹ.) Tôi hỏi Hamilton, phải chăng cuối cùng đã đến lúc các tập đoàn đối mặt với trách nhiệm giải trình về tội ác chiến tranh? “Tôi có thể nói – có, nhưng,” bà phản hồi. “Trong lúc chúng ta chứng kiến hàng loạt những chiến thắng này, trên thực tế, vẫn có một rủi ro bị phản ứng ngược. Hết lần này đến lần khác, các chính phủ đã đánh đổi trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp để lấy những lợi ích (được cho là) về mặt chiến lược, kinh tế và/hoặc công nghệ.”

Hamilton cảnh báo tôi không nên ám chỉ rằng vai trò của doanh nghiệp trong chiến tranh và tội ác chiến tranh là một điều gì đó mới mẻ. “Sự đan xen giữa các tập đoàn và những hành vi tàn bạo đã có từ thời buôn bán nô lệ và chủ nghĩa thực dân,” bà viết. Nhưng có một điều dường như là mới, chí ít là khi so sánh với những tội ác tàn bạo khác đã xảy ra trong ký ức của những người đang sống. Đó là sự vắng bóng của một vỏ bọc giả tạo. Hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác được châm ngòi mà không cần đến cả lớp vỏ bọc về tính chính danh. Tổng thống Trump không chỉ tuyên bố ý định diệt chủng trên mạng xã hội: Ông công khai kế hoạch chiếm đoạt các quốc gia có chủ quyền, ông khoe khoang về việc bắt cóc một nguyên thủ quốc gia, ông phô trương sự coi thường mạng sống con người, và tất nhiên, ông thề sẽ lấy đi toàn bộ dầu mỏ. Người đàn ông quyền lực nhất thế giới đã biến chính sự tàn nhẫn thành một hệ tư tưởng thống trị.

Tòa án ở Paris vừa ra phán quyết rằng sự tàn nhẫn và việc chỉ tập trung vào lợi nhuận có thể cấu thành tội phạm. Tất nhiên, chúng ta không ở Paris. Nhưng một lý do khiến việc chứng kiến Lafarge bị kết án và các giám đốc điều hành của tập đoàn này – trong những chiếc áo sơ mi cổ cứng và những bộ vest cắt may khéo léo – bị bắt giữ mang lại cảm giác vô cùng thỏa mãn, là vì những người đàn ông này chắc chắn chưa bao giờ tưởng tượng rằng họ có thể bị trừng phạt vì những gì mình đã làm.

M. Gessen là chuyên gia bình luận của New York Times, người đã giành Giải thưởng George Polk cho bài viết của mình vào năm 2024. Gessen cũng là tác giả của 11 cuốn sách, bao gồm “The Future Is History: How Totalitarianism Reclaimed Russia,” cuốn sách đã giành Giải thưởng Sách Quốc gia Mỹ vào năm 2017.

Related posts