Tiếng oan giữa lòng thủ đô: Khi người dân Hà Nội bắt đầu hiểu nỗi đau dân oan

Nguyễn Ngọc Như Quỳnh

19-5-2026

Tôi nghĩ về những tiếng kêu cứu mất đất, mất nhà của người dân Hà Nội suốt nhiều tháng nay rồi ngẫm lại cách quản lý và cai trị xã hội của đảng Cộng sản Việt Nam.

“Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước quản lý”. Chính từ khái niệm đó, suốt nhiều năm qua, không ít người vẫn yên ổn trong căn nhà của mình đã dễ dàng cổ vũ cho việc cưỡng chế đất đai của người khác với lý do “hy sinh để phát triển”.

Từ Văn Giang, Dương Nội tới Đồng Tâm.

Từ Thủ Thiêm tới vườn rau Lộc Hưng.

Từ Hòn Rớ, Nha Trang tới Cam Lâm, Khánh Hòa…

Tất cả đều lặp lại cùng một kịch bản: Thu hồi đất, cưỡng chế, khiếu kiện, kêu oan, rồi tuyên truyền rằng đó là cái giá phải trả cho phát triển kinh tế và đô thị hóa.

Cư dân thôn Hải Bồi, xã Vĩnh Thanh phản đối dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng. Nguồn: Facebook

Những người phản kháng thường bị gán nhãn “phản động”, “chống đối”, “không chịu hy sinh vì lợi ích chung”.

Tôi vẫn nhớ sự phẫn uất của người dân mất đất trong dự án Cồn Tân Lập ở Nha Trang. Họ đau đớn nhìn nhà cửa, đất đai, sinh kế bị cuốn đi, nhưng thay vì được lắng nghe, họ bị biến thành những kẻ cản trở sự phát triển của thành phố.

Hôm nay, nhiều người dân Hà Nội có lẽ đã bắt đầu hiểu cảm giác của những người từng bị cưỡng chế trước đây.

Khi việc thu hồi đất không đi kèm bảo đảm tái định cư công bằng, không bảo đảm khả năng tái lập cuộc sống, thì người bị cưỡng chế không chỉ mất nhà. Họ mất luôn cảm giác an toàn và tương lai của cả gia đình.

Điều cay đắng nhất là tất cả cuối cùng đều trở thành nạn nhân của cùng một cơ chế.

Người bị cưỡng chế mất đất là tầng dân oan thứ nhất.

Tầng thứ hai là những người bỏ tiền mua các dự án được xây dựng trên chính những vùng đất đầy tranh chấp đó từ các đại đô thị, khu du lịch cho tới những mô hình nhập nhằng kiểu “đất ở không hình thành đơn vị ở”, hay những dự án chuyển đổi đất công cộng thành đất thương mại dịch vụ.

Họ tin rằng mình đang mua một giấc mơ an cư hay đầu tư sinh lời. Nhưng rồi nhiều người mới nhận ra rằng đồng tiền họ bỏ ra cũng đang nuôi dưỡng một guồng máy có thể đẩy người khác vào cảnh màn trời chiếu đất.

Mỗi người mất mát theo một cách khác nhau, nhưng nguồn gốc đều đến từ một chính sách đất đai mà người dân không có quyền sở hữu thực sự đối với tài sản lớn nhất đời mình.

Trong một cơ chế như vậy, không ai có thể chắc chắn rằng ngôi nhà của mình sẽ không một ngày bị đặt dưới hai chữ “quy hoạch”.

Bi kịch lớn nhất không chỉ là mất đất. Bi kịch lớn hơn là xã hội bị chia cắt thành những nhóm người lần lượt đứng nhìn người khác bị mất nhà cho tới khi chính mình trở thành người đi kêu oan.

Rồi mọi chuyện lại đâu vào đó. Các lãnh đạo sẽ xuất hiện, hứa hẹn, trấn an dư luận, đưa ra những phát biểu đẹp lòng dân. Nhưng lịch sử từ Đồng Tâm, Dương Nội, Thủ Thiêm cho thấy, sau những lời hứa thường là các chiến dịch cưỡng chế quyết liệt hơn, tinh vi hơn, và được bao bọc bởi bộ máy tuyên truyền khổng lồ.

Tiếng oan vì thế kéo dài từ địa phương này sang địa phương khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Chỉ khi người dân hiểu rằng, bất công đối với người khác hôm nay có thể trở thành số phận của chính mình ngày mai, thì xã hội mới có hy vọng thoát khỏi vòng lặp dân oan kéo dài khắp đất nước.

Chỉ khi người mua nhà, người đầu tư bất động sản hiểu rằng, lợi nhuận họ nhận được đôi khi được xây dựng trên nước mắt và sự mất mát của những gia đình khác, thì người ta mới bắt đầu đặt câu hỏi về cái gọi là “phát triển”.

Sau nhiều năm tuyên truyền rằng dân oan ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng làm xấu hình ảnh thủ đô, rằng họ là những người gây rối trật tự công cộng, giờ đây ở ngay giữa lòng thủ đô Hà Nội những tiếng khóc oán than cũng vang vọng đầy.

Có thể thấy rằng, sự bất ổn của Việt Nam chưa bao giờ nằm ở những người đi khiếu kiện, mà nằm ở ngay chính cơ chế khiến ngày càng nhiều người buộc phải trở thành dân oan.

Nguồn: Tiếng Dân

Related posts