Khủng hoảng dầu mỏ có thể khơi mào một làn sóng đầu tư như thế nào

Nguồn:How an oil-supply crisis could bring about an investment boom”, The Economist, 13/09/2026

Biên dịch: Viên Đăng Huy

Năm nay lẽ ra phải là một năm ảm đạm đối với các công ty dầu mỏ. Giá dầu Brent từng được dự báo sẽ giảm xuống dưới 60 USD/thùng, từ mức 68 USD năm 2025 và 80 USD năm 2024, trong bối cảnh thị trường đứng trước nguy cơ “siêu dư thừa” nguồn cung. Thế nhưng, cuộc chiến của Donald Trump ở vùng Vịnh đã đẩy giá dầu trở lại mức ba chữ số. Giờ đây, nhiều nhà phân tích dự báo giá Brent trung bình trong năm 2026 sẽ đạt ít nhất 85 USD/thùng; một số người thậm chí cho rằng giá có thể tăng lên 120 USD nếu các cuộc tấn công nhằm vào tàu thuyền tại eo biển Hormuz tiếp diễn. Ngày 11/9, Ả Rập Saudi buộc phải đóng tuyến đường ống Đông – Tây, vốn là tuyến vận chuyển thay thế cho xuất khẩu dầu của nước này, sau một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái.

Sự đảo chiều bất ngờ của giá dầu đã mang lại lợi ích lớn cho ngành. Cổ phiếu các doanh nghiệp dầu khí trên toàn cầu tăng tổng cộng 40% kể từ đầu năm, so với mức tăng chỉ 12% của toàn bộ thị trường cổ phiếu niêm yết nói chung. Tổng lợi nhuận của bảy tập đoàn dầu khí tích hợp lớn nhất phương Tây cộng với Aramco, tập đoàn dầu khí quốc doanh khổng lồ của Ả Rập Saudi, đạt 91 tỷ USD trong quý II/2026, gấp đôi so với cùng kỳ năm trước.

Khoản lợi nhuận khổng lồ này xuất hiện sau nhiều năm các công ty phải thắt chặt chi tiêu theo yêu cầu của cổ đông, hệ quả của cú sụp đổ giá dầu giữa thập niên 2010 sau một thời kỳ đầu tư ồ ạt. Chi tiêu vốn thực tế đã tăng trở lại sau khi Nga xâm lược Ukraine đẩy giá dầu vượt 120 USD/thùng, nhưng dòng tiền thu về còn tăng nhanh hơn. Phần thặng dư chủ yếu được dùng để trả nợ và hoàn vốn cho cổ đông thay vì đầu tư vào các giếng dầu mới. Hơn nữa, phần lớn mức tăng chi phí đầu tư phản ánh giá khoan và dịch vụ tăng cao chứ chưa phải một làn sóng mở rộng hoạt động thực sự. Tuy nhiên, lần này các hãng dầu mỏ có thể buộc phải làm nhiều hơn với những núi tiền mặt đang tích tụ. Vì vậy, cuộc chiến ở vùng Vịnh có thể tạo tiền đề cho một làn sóng thăm dò mới cùng hoạt động mua bán – sáp nhập sôi động, qua đó định hình phần còn lại của thập niên này và xa hơn nữa.

Cho đến nay, các hãng dầu mỏ chủ yếu dùng phần lợi nhuận bất ngờ mới nhất để giảm nợ, thưởng cho cổ đông và, ở mức khiêm tốn hơn, tăng sản lượng từ những tài sản hiện có. Trước hết là vấn đề nợ. Sau khi Nga xâm lược Ukraine, các công ty đã sử dụng phần lớn tiền mặt thu được để củng cố bảng cân đối kế toán. Trong khoảng 18 tháng trước chiến tranh vùng Vịnh, khi giá dầu suy yếu, họ lại quay sang vay thêm để duy trì mức chi trả ổn định cho cổ đông và tài trợ cho các khoản đầu tư vốn đã cam kết. Giờ đây, họ lại bắt đầu giảm đòn bẩy. Trong quý II/2026, năm tập đoàn lớn nhất gồm ExxonMobil, Chevron, Shell, BP và TotalEnergies đã giảm tổng nợ ròng 36 tỷ USD, tương đương gần 20%. Các công ty nhỏ hơn, thường có gánh nặng nợ lớn hơn, thậm chí còn ưu tiên mạnh hơn việc giảm nợ.

Một ưu tiên khác là tiếp tục làm đầy túi các cổ đông. Ngay trước khi chiến tranh với Iran bùng nổ, nhiều nhà đầu tư đã chuẩn bị tinh thần cho một giai đoạn khó khăn hơn. Alastair Syme thuộc Citigroup cho biết các tập đoàn dầu khí lớn đã công bố mức cắt giảm tổng cộng 11% đối với các khoản phân phối cho cổ đông, chủ yếu bằng cách thu hẹp các chương trình mua lại cổ phiếu. Những khoản cổ tức đặc biệt mà các doanh nghiệp nhỏ hơn chi trả, đôi khi dựa vào vốn vay, trông đặc biệt khó bền vững. Nhưng giá dầu tăng mạnh đã thay đổi cục diện. Ngoại trừ BP, tất cả các tập đoàn lớn đều giữ nguyên hoặc tăng cổ tức và chương trình mua lại cổ phiếu. Các doanh nghiệp nhỏ hiện không chỉ trả cổ tức đặc biệt mà còn bắt đầu duy trì cả cổ tức định kỳ.

Sau khi giảm nợ và chi trả cho cổ đông, rất ít tiền mặt được dành cho mở rộng đầu tư. Tổng lượng tiền mặt mà các tập đoàn lớn nắm giữ gần như không thay đổi từ quý IV/2025 đến quý II năm nay. Ban lãnh đạo các công ty đã phải tích cực trấn an nhà đầu tư rằng phần lớn lợi nhuận bất ngờ trong năm 2026 sẽ chảy vào túi cổ đông, chứ không bị đổ vào những dự án mới. Ngoại lệ đáng chú ý là Diamondback, một doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực dầu đá phiến, cùng một số công ty tư nhân lớn như Continental Resources và Hilcorp Energy, vốn đã đầu tư vào các dự án có thời gian hoàn vốn nhanh như hoàn thiện những giếng đã khoan sẵn tại các bể đá phiến của Mỹ.

Ở giai đoạn đầu của cuộc chiến, sự thận trọng đó hoàn toàn hợp lý. Giá dầu từng lao dốc trong tháng 6 khi Mỹ và Iran đạt được một thỏa thuận sơ bộ. Nhưng giao tranh sau đó bùng phát trở lại, đẩy giá dầu tăng mạnh và có thể duy trì ở mức cao trong nhiều tháng, khiến nhiều dự án mới trở nên hấp dẫn hơn về mặt kinh tế. Và những dự án đó đang dần trở thành điều thiết yếu. Cứ khoảng hai năm, suy giảm tự nhiên tại các mỏ dầu hiện hữu lại làm mất đi một lượng nguồn cung tương đương toàn bộ sản lượng của Ả Rập Saudi. Việc bù đắp lượng suy giảm này đang ngày càng khó khăn hơn: số lượng phát hiện mới ít ỏi trong những năm gần đây có nghĩa rằng đến năm 2040, sản lượng dầu khí hằng ngày có thể thấp hơn tới 31 triệu thùng so với mức nếu không có suy giảm, gần bằng một phần năm tổng sản lượng hiện nay. Wood Mackenzie ước tính có tới 70 công ty đang đối mặt với nguy cơ sản lượng giảm một nửa.

Các hãng dầu mỏ vì thế cần làm mới danh mục tài sản, và giờ đây họ đã có nguồn lực để làm điều đó. Paul Hickin thuộc Petroleum Economist cho biết bất ổn địa chính trị cùng mong muốn đa dạng hóa nguồn cung khỏi Trung Đông đang tạo thêm sức nặng cho các quyết định đầu tư.

Con đường chậm hơn để có được nguồn tài nguyên mới là thăm dò. Ngân sách thăm dò hiện chưa tăng đáng kể, nhưng nhiều dấu hiệu cho thấy các tập đoàn lớn đang ráo riết tìm kiếm cơ hội. Thay vì chỉ tham gia đấu giá giấy phép chính thức và cam kết vốn ngay từ đầu, họ đang tích lũy quyền tiếp cận những khu vực rộng lớn rồi sử dụng các công cụ trí tuệ nhân tạo để quét dữ liệu và xác định những vị trí có tiềm năng khoan. Các thỏa thuận farm-out, trong đó một công ty dầu khí quốc gia tài trợ một phần hoạt động thăm dò của một tập đoàn nước ngoài để đổi lấy phần sở hữu trong dự án, cũng đang phổ biến hơn, một phần vì các chính phủ muốn thúc đẩy sản lượng trong nước.

Rất nhiều khu vực khác nhau đang thu hút sự chú ý. Có các vùng nước sâu ở Nam Đại Tây Dương ngoài khơi Namibia và Nam Phi, cũng như phía đông Địa Trung Hải. Có những bể trầm tích còn ít được thăm dò tại Uruguay, Việt Nam và Papua New Guinea, nơi hoạt động khảo sát mới chỉ ở giai đoạn đầu. Và còn có các quốc gia từ Algeria đến Australia, nơi doanh nghiệp đang cố gắng áp dụng mô hình khai thác đá phiến của Mỹ, cùng nhiều mỏ dầu khí đã trưởng thành ở châu Á có thể được khai thác tích cực hơn.

Con đường nhanh hơn để gia tăng tài nguyên là mua lại đối thủ. Đầu năm nay, hoạt động sáp nhập được dự báo sẽ khá trầm lắng vì giá dầu thấp làm giảm động cơ giao dịch. Nhưng ban đầu thị trường lại chậm vì lý do ngược lại: giá biến động quá mạnh khiến người mua và người bán khó thống nhất về định giá, theo Bob Brackett thuộc Bernstein. Giờ đây, khi cả hai phía dần quen với khả năng giá dầu duy trì ở mức cao hơn trong thời gian dài, hoạt động mua bán – sáp nhập đang tăng tốc. Sáu thương vụ trị giá hơn 1 tỷ USD mỗi vụ đã được công bố chỉ trong hai tháng gần đây.

Số lượng giao dịch hoàn toàn có thể tăng mạnh vào năm tới. Dan Pickering thuộc Pickering Energy Partners cho rằng các tập đoàn lớn hiện đã gần hoàn tất việc tích hợp những thương vụ thâu tóm quy mô lớn thực hiện vào đầu thập niên 2020. Bảng cân đối kế toán vững hơn sẽ giúp họ dễ dàng mạnh tay chi tiền cho các thương vụ mới. Các quỹ đầu tư tư nhân, các hãng kinh doanh hàng hóa và những bên mua đang tìm kiếm tài nguyên ngoài vùng Vịnh, trong đó có các công ty Nhật Bản, cũng đang tích cực săn tìm tài sản. Ngoài ra, nước Mỹ chỉ còn chưa đầy hai năm trước khi nhiệm kỳ của một chính quyền thân thiện với hoạt động giao dịch và ủng hộ khoan dầu kết thúc.

Tuy nhiên, các cổ đông dường như vẫn chưa đặt cược vào một kỷ nguyên hoàng kim của đầu tư mở rộng. Hassan Eltorie thuộc S&P Global lưu ý rằng phần lớn các công ty dầu mỏ niêm yết vẫn giao dịch với hệ số giá trên dòng tiền gần tương đương mức trước chiến tranh, cho thấy diễn biến vượt trội của cổ phiếu chủ yếu phản ánh giá dầu cao hơn chứ chưa phải một sự thay đổi căn bản trong triển vọng kinh doanh dài hạn. Quỹ đạo nhu cầu dầu vẫn rất khó đoán. Hoạt động thăm dò có thể thất bại. Và số mục tiêu thâu tóm quy mô lớn, rõ ràng cũng không nhiều. Dẫu vậy, vũng lầy tại vùng Vịnh đã mang tới cho ngành dầu mỏ chính khoảng thời gian và nguồn lực mà họ cần để vạch ra một hướng đi mới.

Related posts