Cuối năm tưởng nhớ Thi sĩ tài hoa lận đận Nguyễn Bính

Phạm Chu Sa

Nhà thơ Nguyễn Bính

Những ngày cuối năm lành lạnh bỗng xót xa tưởng nhớ đến Thi sĩ tài hoa lận đận Nguyễn Bính, nghĩ về cái chết lạnh lẽo và cô đơn của ông trong một chiều ba mươi tết hơn nửa thế kỷ trước. Thế hệ chúng tôi lớn lên ở miền Nam không có cơ hội được gặp thi sĩ Nguyễn Bính. Nhưng tôi có may mắn được gặp những người thân của Nguyễn Bính từ gần ba mươi năm trước: Đó là nữ sĩ Mộng Tuyết – người chị kết nghĩa của thi sĩ. Năm 1945, Nguyễn Bính đã từng xuống Hà Tiên thăm vợ chồng thi nhân Đông Hồ – Mộng Tuyết và ở lại mấy tháng. Đó là bà Hồng Châu – người vợ đầu của Nguyễn Bính, từng sống với ông trong chiến khu thời 9 năm kháng chiến chống Pháp. Đó là chị Nguyễn Bính Hồng Cầu, người con gái đầu của thi sĩ với bà Hồng Châu. Và đặc biệt là nhà thơ Hoài Anh có thời gian làm việc ở Hội Nhà văn Việt Nam tại Hà Nội những năm 1960, khá thân thiết với Nguyễn Bính – kể cả lúc ông bị đày về Ty Văn hóa Nam Hà, sau khi báo Trăm Hoa do ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút bị đóng cửa! Sau 1975, Hoài Anh chuyển công tác vào sống và viết ở Sài Gòn. Thời gian còn làm báo, tôi hay gặp gỡ, lai rai với anh. Hoài Anh cũng đôi lần ghé thăm tôi ở căn phòng tôi thuê trên đường Cao Thắng, gần nơi anh ở. Tính anh xuề xòa, thường lê la ở Hội quán 81, quán Trống Đồng…, trò chuyện vui vẻ hòa đồng với các bạn văn nghệ – bất kể già trẻ, nổi tiếng hay vô danh.

Những người nói trên đã kể cho tôi nghe nhiều chuyện về đời riêng Nguyễn Bính. Từ khi ông ở nhà bà chị kết nghĩa Mộng Tuyết đến khi ông lẳng lặng ra chiến khu Tây Nam Bộ tham gia kháng chiến, lấy vợ, sinh con trong chiến khu. Thời gian 9 năm kháng chiến chống Pháp của Nguyễn Bính ở chiến khu Tây Nam bộ, qua lời kể của bà Hồng Châu, có nhiều chuyện rất thú vị. Nhưng vì tế nhị tôi không thể viết hết ra đây!

Lại nhớ những câu thơ hào sảng trong bài Hành phương Nam Nguyễn Bính viết năm 1943 khi lưu lạc vào Sài Gòn: “Đôi ta lưu lạc phương Nam này / Trải mấy mùa qua én nhạn bay / Xuân đến khắp trời hoa rượu nở / Mà ta với ngươi buồn vậy thay / Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu / Mà không uống cạn mà không say…/ Ta đi nhưng biết về đâu chứ ?/ Đã dấy phong yên lộng bốn trời / Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ / Uống say mà gọi thế nhân ơi!…”(Hành phương Nam). Năm 1943, Nguyễn Bính cùng Vũ Trọng Can và Tô Hoài rủ nhau làm một chuyến giang hồ từ Hà Nội vào Sài Gòn. Chỉ một thời gian ngắn, cả ba cạn túi, Vũ Trọng Can làm một chuyện “vô tiền khoáng hậu” ở xứ ta là tổ chức diễn thuyết về văn chương tại một rạp hát, có bán vé thu tiền! Dĩ nhiên là hoàn toàn thất bại. Vũ Trọng Can và Tô Hoài bèn lên tàu về lại Hà Nội, Nguyễn Bính một mình ở lại Sài Gòn tính chuyện làm thơ bán cho các báo kiếm tiền sống. Có một số người yêu thơ ông ủng hộ nhưng chẳng được bao nhiêu. Lang thang ở Sài Gòn một thời gian, năm 1945 Nguyễn Bính xuống Hà Tiên thăm vợ chồng thi sĩ Đông Hồ – Mộng Tuyết, được vợ chồng thi nhân nổi tiếng này tiếp đãi chân tình và mời ở lại. Đặc biệt, theo lời nữ sĩ Mộng Tuyết kể lại với người viết, bà và Nguyễn Bính đã kết nghĩa chị em. Năm đó Mộng Tuyết ba mươi còn Nguyễn Bính hai mươi bảy tuổi. Bà chị mua sắm quần áo cho ông em kết nghĩa vốn giang hồ lãng tử ít quan tâm tới chuyện ăn mặc. Nữ sĩ bảo, bà may cho Nguyễn Bính một bộ đồ lụa, chàng thi sĩ mặc trông rất mắc cười. Bà lại còn tính gả cô cháu cho thi sĩ. Nhưng bỗng một ngày kia ông bỏ đi mà không chào từ biệt ai, kể cả Mộng Tuyết. Nữ sĩ đoán là ông vô chiến khu nên ngại báo cho bà. Thì ra đúng như nữ sĩ nghĩ, ông đã dò tìm được đường vào chiến khu tham gia kháng chiến. Sau này khi nghe tin Nguyễn Bính lấy vợ là một người làm báo trong chiến khu, bà Mộng Tuyết rất mừng. Vợ Nguyễn Bính là cô Hồng Châu, công tác cùng cây bút trẻ Sơn Nam ở báo “ Tiếng sung kháng dịch” của Quân khu 9.

Hai mươi tám năm trước, bà Hồng Châu kể với tôi, hai người lấy nhau do lãnh đạo xứ ủy sắp đặt và lo liệu mọi chuyện. Khi đó Hồng Châu trẻ đẹp có tiếng của báo, không biết ai báo cáo với bí thư xứ ủy Lê Duẩn, ông đến thăm cô Châu tại tòa soạn báo, rồi sau đó đến tận nhà nói với mẹ cô hãy động viên cô lấy Nguyễn Bính để giữ chân nhà thơ nổi tiếng đang được chính phủ Nam Kỳ tự trị tìm mọi cách lôi kéo về thành. Tuy chưa muốn lấy chồng, nhưng vì lời động viên của bí thư Lê Duẩn và mẹ, cô Châu chấp nhận lấy nhà thơ. Sau đám cưới, tổ chức còn tạo điều kiện để vợ chồng nhà thơ được sống êm đềm trong một căn nhà nhỏ bên dòng kênh thơ mộng để thi sĩ làm thơ. Thời gian này Nguyễn Bính làm nhiều bài thơ hay về kháng chiến, trong đó có bài “Tiểu đoàn ba lẻ bảy” được phổ nhạc rất hào hùng, ca sĩ Quốc Hương trình bày bài hát này rất hùng tráng và lôi cuốn, bài hát lan nhanh khắp chiến khu. Chàng thi sĩ Nguyễn Bính suốt ngày thơ rượu, còn cô vợ Hồng Châu được chuyển qua làm phát hành sách báo, để có điều kiện được đi đây đó mua sắm lo cho nhà thơ. Ít lâu sau con gái đầu lòng ra đời. Ban đầu Nguyễn Bính tính đặt tên con gái là Nguyễn Bính Anh Thơ – tên nữ sĩ mà Nguyễn Bính rất yêu quý. Bà Hồng Châu không đồng ý, nên ông đặt lại là Nguyễn Bính Hồng Cầu. Trong những lúc vợ vắng nhà, bản chất đa tình của chàng thi sĩ đã đưa lối đến một nàng thôn nữ khác. Kết quả của mối tình vụng trộm này lại là một con gái, Nguyễn Bính đặt tên Hương Mai… Bà Hồng Châu rất đau khổ nhưng phải cắn răng chịu đựng… Năm 1954, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, để lại hai người phụ nữ và hai cô con gái tuổi mới vừa lên hai lên ba, với ý nghĩ là sau hai năm sẽ trở lại miền Nam đoàn tụ. Nhưng cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, ông vẫn chưa một lần được nhìn lại mặt vợ con ở miền Nam.

Về lại Hà Nội sau nhiều năm xa cách, Nguyễn Bính cảm thấy lạc lõng, xa lạ. Những câu thơ đầu tiên ông làm sau nhiều năm xa cách Hà Nội: “Chín năm đốt đuốt soi rừng / Về đây ánh điện ngập ngừng bước chân…” Và nhà thơ da diết nhớ người vợ miền Nam: “Em ở bên kia bờ vĩ tuyến/ Nhìn sao thao thức mấy năm rồi…/ Trời còn có bữa sao quên mọc / Anh chẳng đêm nào không nhớ em!” (Đêm sao sáng)

Ít lâu sau, nhà văn Tô Hoài, bạn thân của Nguyễn Bính, giới thiệu thi sĩ với nhà báo Lưu Quý Kỳ – cán bộ tuyên giáo cũng vừa từ miền Nam tập kết ra Bắc. Ông Kỳ đã biết Nguyễn Bính khi làm báo văn nghệ trong kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ. Ông Kỳ đề xuất với Ban tuyên giáo trung ương sắp đặt và tài trợ cho Nguyễn Bính tục bản và làm chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Trăm Hoa bộ mới. Trước đó Trăm Hoa là tờ tuần báo do Nguyễn Mạnh Phác, tức nhà thơ Trúc Đường – anh ruột Nguyễn Bính , làm chủ nhiệm. Sau khi từ miền Nam ra, Nguyễn Bính tham gia làm chủ bút báo với ông anh, nhưng được thêm mấy số thì Trăm Hoa chết. Bấy giờ tư nhân còn được làm báo, nên Đảng muốn dùng một tờ báo tư nhân do một nhà thơ nổi tiếng ngoài Đảng làm đối trọng với Nhân Văn – Giai Phẩm – do một nhóm người cầm bút chủ trương không chịu sự quản lý của Đảng. Trăm Hoa được tài trợ, mua giấy giá chính thức với chỉ đạo chống lại nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm, thế nhưng Nguyễn Bính không làm theo chỉ đạo, không viết chống lại nhóm Nhân văn – Giai phẩm, thích đăng gì là đăng! Thậm chí có bài của người Ban tuyên giáo viết “đánh” Nhân Văn – Giai Phẩm, Nguyễn Bính cũng không đăng trên Trăm Hoa! Thời gian này, Nguyễn Bính kết hôn với cô thư ký của báo còn rất trẻ tên Phạm Vân Thanh, con gái một quan chức có vai vế ở Hà Nội. Dù bị gia đình quyết liệt phản đối, nhưng cô vẫn cương quyết lấy ông. Ông đưa tên cô Thanh vào Ban biên tập. Mối lương duyên kéo dài không lâu, bởi sau khi Trăm Hoa không chấp hành chỉ đạo chống Nhân Văn – Giai Phẩm, đã bị cắt suất mua giấy theo giá chính thức. Nguyễn Bính bắt cô vợ trẻ bán hết vòng vàng do cha mẹ cho mang theo để mua giấy giá chợ đen, kéo dài thêm được mấy kỳ báo. Rồi hết tiền mua giấy, báo phải tự đình bản. Bi kịch gia đình xảy ra. Theo hồi ký của nhà văn Tô Hoài, sau khi Trăm Hoa đình bản, Nguyễn Bính chìm trong men rượu, còn cô vợ ôm đứa con trai mới hơn một tuổi, không tiền bạc, túng quẩn và buồn phiền. Có hôm Nguyễn Bính say về còn gây gỗ với vợ. Cô giận bỏ về nhà cha mẹ, để ông chồng thi sĩ lâm vào cảnh “gà trống nuôi con” trong khốn khó. Nguyễn Bính mang con đến gửi nhờ nhà ông anh Trúc Đường, nhưng thấy ông anh cũng khó khăn, ông lại đem con về. Hàng ngày đi uống rượu thi sĩ cõng theo thằng con! Cũng theo lời Tô Hoài, một chiều cuối năm Nguyễn Bính uống rượu ở góc chợ say mèm, nhờ một ông già bán củi giữ hộ thằng con để ông đi vệ sinh. Thế rồi ông ngủ quên bên thềm chợ, đến khi thức giấc trời tối mịt, chợ vắng tanh, Nguyễn Bính chợt nhớ thằng con, chạy đi tìm khắp nơi nhưng không thấy ông già ấy đâu. Ông tìm mãi, tìm mãi cho đến sau này nhưng vẫn không bao giờ gặp lại đứa con trai! (Ở đây tôi xin mở ngoặc với một câu hỏi: không hiểu vì sao trong bài hồi ký viết về Nguyễn Bính nói trên, Tô Hoài lại viết “không biết tiền đâu mà Nguyễn Bính làm báo Trăm Hoa!”, trong khi chính ông là người giới thiệu Nguyễn Bính với ông Lưu Quý Kỳ và Ban tuyên giáo trung ương! Cuối năm 1995, tôi đến thăm và phỏng vấn nhà văn Tô Hoài tại nhà ông ở ngõ Đoàn Nhữ Hài, phố Trần Quốc Toản, Hà Nội. Tiếc là bấy giờ mà tôi chưa được đọc cuốn hồi ký ấy – vì hình như chưa in. Nếu đọc rồi chắc là tôi đã hỏi, ông sợ gì mà nói không đúng sự thật vậy? Bài phỏng vấn Tô Hoài đang trên Thanh Niên chủ nhật tháng 1-1996).

Cũng qua lời bà Châu kể với người viết, mãi hơn nửa năm sau khi Nguyễn Bính chết, có một sĩ quan quân đội đến tìm bà trong chiến khu Tây Nam bộ báo tin vắn tắt là nguyễn Bính đã chết – nhưng không nói gì về nguyên nhân cái chết – có lẽ vì ông cũng không biết! Sau ngày thống nhất, khi ra Hà Nội tìm hiểu về cái chết bi thương của chồng hơn mười năm trước, bà Châu có tìm thăm bà Thanh – bấy giờ đã tái giá với một sĩ quan cao cấp trong quân đội. Hai người trò chuyện khá lâu. Bà Thanh tặng bà Châu một bức thêu trên lụa bài thơ với nét chữ của Nguyễn Bính (bức thêu hiện trưng bày tại nhà lưu niệm Nguyễn Bính ở Gò Vấp – TPHCM). Một thời gian sau, người con gái lớn của nhà thơ, Nguyễn Bính Hồng Cầu ra Bắc xây mộ cho Bố và tiếp tục đi tìm đứa em thất lạc, nhưng vẫn không chút manh mối. Điều an ủi cho Hồng Cầu là được gặp một cậu em trai khác, kết quả của một cuộc tình của nhà thơ với bà hàng xén ở Nam Định. Trước đó, sau ngày 30 tháng Tư 1975, Hồng Cầu cũng tìm được cô em cùng cha khác mẹ ở Nam bộ mà khi Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, hai chị em chỉ lên bốn lên hai, không hề biết nhau!

Về “mối tình cuối” với bà hàng xén của Nguyễn Bính, theo lời nhà thơ Hoài Anh thì, khi Nguyễn Bính “biệt phái” về ty văn hóa Nam Hà (Nam Định – Hà Nam), nghe nói có một cô hàng xén ở chợ Rồng, Nam Định còn giữ được tập thơ Lỡ bước sang ngang, ông tìm đến mượn và làm quen, rồi hai người trở thành vợ chồng.

Về cái chết bi thương của Nguyễn Bính, Hoài Anh kể: Tết năm Bính Ngọ (1966) Hoài Anh về quê ăn tết. Ngày mồng ba tết, anh từ quê đi theo sông Châu Giang lên thăm một người quen tên Hứa, tức Tân Thanh, ở thôn Mạc Hạ, xã Công Lý, huyện Lý Nhân. Ông Hứa là Đông y sĩ nhưng mê văn chương, cũng có viết văn làm thơ đăng báo, là một người rất yêu thơ Nguyễn Bính, tính tình rất hào phóng thường giúp đỡ tiền bạc cho Nguyễn Bính khi khó khăn. Khi Hoài Anh vừa đến nơi, ông Hứa cho biết Nguyễn Bính mới mất hôm chiều hăm chín tết. (Hăm chín, nhưng tháng chạp thiếu, coi như ba mươi). Ông Hứa ngậm ngùi kể lại: Hôm đó nhà thơ mới ở bệnh viện về, ghé qua cơ quan Ty Văn hóa Nam Hà sơ tán về xã Nhân Nghĩa, huyện Lý Nhân tính ứng tiền lương về quê ăn tết. Nhưng khi Nguyễn Bính đến nơi thì cơ quan đã đóng cửa nghỉ tết, mọi người về quê hết, ông bèn lên Mạc Hạ vay tiền ông Hứa. Nguyễn Bính đến lúc ông Hứa vừa đi chia thịt lợn về, ông bèn đánh tiết canh, luộc lòng và dồi mời Nguyễn Bính uống rượu. Ăn uống xong Nguyễn Bính ra cầu ao rửa miệng, trượt chân ngã xuống ao, bị trúng lạnh. Vớt lên, người ông lạnh run, tím tái và ói ra máu – có lẽ là tiết canh lợn! Ông Hứa chạy quanh xóm tìm mãi mới có hai người giúp cáng nhà thơ đến trạm xá. Nhưng khi cáng đến Cầu Họ thì Nguyễn Bính qua đời, nên phải an táng ông tại nghĩa trang gần Cầu Họ ngay chiều hôm đó. Đó là ngày cuối cùng năm bốn mươi chín tuổi ta của Nguyễn Bính!!.

Hoài Anh vội về Hà Nội báo tin dữ cho Xuân Diệu và Tô Hoài. Hội Nhà văn họp, cử nhà thơ Yến Lan (đồng tác giả kịch thơ Bóng giai nhân viết chung với Nguyễn Bính, xuất bản năm 1942) xuống Hà Nam viếng Nguyễn Bính. Đêm đó Hoài Anh làm bài thơ khóc Nguyễn Bính. Hoài Anh đọc cho tôi nghe, tôi còn nhớ mấy câu rất ngậm ngùi: “Anh ngã xuống lòng ao nước nông/ Ôi trời! lạnh thế, gió mùa đông…/ Đồng quê man mác trang anh viết / Một cánh buồm nâu thở phập phồng…”

Kết cuộc đời một Thi Sĩ Tài Hoa buồn lắm thay!

Related posts