Trân Văn
2-4-2026
Xung đột tại Trung Đông khiến giá dầu thị trường thế giới nhảy múa vì các nguồn cung cấp nhiên liệu bất kể là ngoài hay trong đều đối diện với rủi ro gián đoạn, thậm chí đứt gãy hoàn toàn. Tất cả mọi người, thuộc mọi giới, đều có thể cảm nhận tường tận hậu quả tai hại thế nào và mức độ nghiêm trọng ra sao nếu bị động về nhiên liệu nói riêng và năng lượng nói chung.
Tại Việt Nam, Thủ Tướng Phạm Minh Chính vừa yêu cầu nội các “khẩn trương làm việc với các đối tác nước ngoài để triển khai xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược tại Thanh Hóa.”

Tuy khai thác được dầu thô, có hai nhà máy lọc dầu (Dung Quất tại Quảng Ngãi, Nghi Sơn tại Thanh Hóa) nhưng nếu so với các lân bang và những quốc gia khác ở khu vực Đông Á, biến động trên thị trường dầu thế giới lần này vẫn khiến kinh tế-xã hội Việt Nam hỗn loạn nhiều hơn vì chính quyền thiếu viễn kiến và không chuẩn bị. Yêu cầu “khẩn trương làm việc với các đối tác nước ngoài để triển khai xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược” của thủ tướng Việt Nam chính là ví dụ mới nhất, rõ nhất minh họa cho điều đó.
Theo các số liệu được công bố, Việt Nam chỉ dự trữ đủ lượng xăng dầu đáp ứng nhu cầu tiêu thụ toàn quốc trong khoảng từ 15 ngày đến 30 ngày, thấp nhất Đông Nam Á – chỉ chừng một nửa so với Philippines và Thái Lan (60 ngày). Sở dĩ lượng xăng dầu dự trữ của Việt Nam thấp vì quốc gia này gần như không có hệ thống dự trữ quốc gia, việc dự trữ do các doanh nghiệp đầu mối và thương nhân phân phối đảm trách. Doanh nghiệp đầu mối dự trữ khoảng 20 ngày/nhu cầu tiêu thụ mỗi ngày còn thương nhân dự trữ khoảng năm ngày/nhu cầu tiêu thụ mỗi ngày.
Nếu xét rộng hơn một chút, chẳng hạn đem những con số vừa đề cập đặt bên cạnh một số quốc gia khác ở Đông Á, tự nhiên sẽ thấy năng lực ứng phó của Việt Nam đối với những biến động đe dọa an ninh năng lượng thảm hại thế nào: Dự trữ nhiên liệu của Nam Hàn là 208 ngày, của Nhật là 254 ngày. Riêng Nhật, ngoài hệ thống kho dự trữ nhiên liệu mà doanh nghiệp bị buộc phải tự thiết lập, chính quyền còn xây dựng thêm hệ thống kho trong lòng núi, ở ven biển. Do vậy, khi các nguồn nhập cảng bị tắc, chính quyền vẫn có thể vận hành nền kinh tế trong chín tháng.
Không ai hiểu tại sao các giới chức hữu trách tại Việt Nam thường xuyên đề cập đến “an ninh năng lượng” nhưng lại không đầu tư thỏa đáng cho hệ thống kho dự trữ nhiên liệu quốc gia. Trong vài thập niên gần đây, thiếu hệ thống kho dự trữ nhiên liệu chính là lý do khiến giá nhiên liệu trở thành gánh nặng cho kinh tế, đời sống. Giá dầu thị trường thế giới tăng, hoạt động của các nhà máy lọc dầu ở Dung Quất hay Nghi Sơn trục trặc, sản lượng xăng dầu đưa ra thị trường giảm là giá vận tải tăng ngay lập tức, bám sát phía sau là giá hàng hóa, dịch vụ tăng, lạm phát lan rộng.
Không chỉ có thế, doanh giới Việt Nam còn bị buộc phải làm quen với chuyện lợi nhuận đột nhiên giảm vì giá nhiên liệu thay đổi, thị trường nhiên liệu nội địa khó lường thì càng đầu tư nhiều, rủi ro càng lớn do vận tải, logistics đình trệ ngoài dự kiến, phải giảm công suất, thậm chí ngừng hoạt động. Đó là chưa kể vì thiếu dự trữ nhiên liệu, giá nhiên liệu tại Việt Nam hứng chịu tác động rất nhanh từ những thay đổi trên thị trường dầu trên thế giới, rủi ro về biến động tỷ giá USD/VND đối với nhập cảng gia tăng, sản xuất – kinh doanh không những không có lời mà còn mất vốn.
Trong vài thập niên gần đây, khó mà đếm xuể đã có bao nhiêu công điện mà nội dung là “tuyệt đối không để thiếu hụt, đứt gãy nguồn cung” vì giá xăng dầu nhảy múa. Chính quyền Việt Nam chỉ cương quyết nắm giữ cho bằng được quyền lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của đảng CSVN chứ không chịu chủ động dẫn dắt thị trường xăng dầu bằng việc đầu tư thỏa đáng cho hệ thống kho dự trữ nhiên liệu, cho dù có hệ thống này là có công cụ để giảm sốc giá, ổn định tỷ giá, duy trì sự ổn định của vận tải, sản xuất, thương mại, ổn định kinh tế vĩ mô.
***
Theo một số nguồn trong nước, ngoài hệ thống kho dự trữ nhiên liệu của các doanh nghiệp đầu mối và thương nhân phân phối với khả năng như đã đề cập, Việt Nam cũng có hệ thống kho dự trữ nhiên liệu quốc gia và nguồn dự trữ từ hệ thống này có thể đáp ứng nhu cầu tiêu thụ toàn quốc khoảng một… tuần! Tuy nhiên, nếu chịu khó tìm kiếm thêm thông tin về hệ thống này, hẳn sẽ khó mà giữ bình tĩnh về tâm và tầm của chính quyền Việt Nam lẫn năng lực cất trữ nhiên liệu thật sự của hệ thống ấy.
Chẳng hạn, vào cuối thập niên 2010, chính quyền Việt Nam khởi công xây dựng tổng kho xăng dầu Phú Xuân-Nhà Bè (TP.HCM). Theo tuyên truyền, đây là một “đại dự án năng lượng,” có thể cất trữ từ 230,000 khối đến 450,000 khối xăng dầu. Trên thực tế, sau khi thi công 70% cầu cảng, mua 80% vật tư, thiết bị để xây dựng hệ thống cất trữ, dự án này bị đắp chiếu từ năm 2021 đến nay vì… thiếu vốn. Cho dù cả Quốc Hội khóa trước lẫn chính phủ đã đưa dự án vào diện “giám sát trọng điểm” nhưng vẫn chưa thể… “tháo gỡ khó khăn về vốn.”
Các “đại dự án năng lượng” liên quan đến việc nâng cao năng lực dự trữ nhiên liệu tầm vóc quốc gia khác như xây dựng kho dự trữ xăng dầu tại Nghi Sơn (Thanh Hóa), kho dự trữ xăng dầu Thị Vải (Bà Rịa-Vũng Tàu) cũng thế. Nghĩa là cũng được đề cập trên giấy, khi triển khai không vướng mắc về vốn thì cũng gặp trục trặc về thủ tục. Thậm chí trở thành “đại án” như các kho dự trữ cồn dùng làm nhiên liệu (ethanol): Ethanol Dung Quất, Ethanol Bình Phước, Ethanol Phú Thọ – ngốn hết hàng ngàn tỷ thì đóng cửa để đó.
Xung đột Trung Đông, biến động thị trường dầu thế giới, hỗn loạn về kinh tế và đời sống tại Việt Nam do giá nhiên liệu tăng, lại thêm một lần làm cho kho dự trữ chiến lược về xăng dầu trở thành chuyện được cho là phải… “khẩn trương.” Tuy nhiên, câu hỏi lúc nào thì dân chúng, doanh giới mới có thể hưởng lợi từ việc chính quyền đủ cả tâm lẫn tầm, mua dầu thô, mua nhiên liệu giá rẻ để dùng dần, không buộc thiên hạ phải “thắt lưng, buộc bụng” không chỉ là loại thắc mắc chưa có câu trả lời mà còn có thể làm người ta đi tù vì đặt vấn đề thiếu… “thiện chí!”
